Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

THỜI GIAN, CUỘC ĐỜI, BẠN, THÙ VÀ NHÂN DÂN





Cuộc đời có nhiều ý nghĩa. Đấy là cách nói với những người ít nhiều hiểu biết. Thực ra không dễ để hiểu và giảng giải về ý nghĩa cuộc đời. Mà để có suy nghĩ về cuộc đời cho ra nghĩ, trên đời này liệu có mấy ai.

Có nhiều cách nghĩ về cuộc đời. Mỗi người ở góc độ cuộc sống của mình, có ý nghĩ riêng về nó. Về đại thể, trong cuộc sống, có thể ở một số người có những nét đại cương giống nhau, nhưng nói chung là khác biệt và người ta chỉ đi đến sự thống nhất khi mỗi người chúng ta cùng cố giảm cái khác biệt của mình đi. Còn sự thật thì chẳng ai giống ai, “trăm người trăm tính là thế”. Cái đó mới tạo nên cuộc đời đa dạng.

Thêm nữa, suy nghĩ của mỗi chúng ta về cuộc đời cũng thay đổi cùng với những biến chuyển của thời cuộc và thời gian. Vô số sự tác động của cuộc đời vào ta làm ta phải thay đổi suy nghĩ. Chẳng có gì bất biến là thế.

Vâng! Thời cuộc và thời gian. Từ năm bốn nhăm đến nay, gần bảy chục năm, đã bao nhiêu là biến chuyển đổi thay. Suy nghĩ con người về cuộc đời cớ sao lại không thay đổi? Những người đã trải qua các biến đổi đó lẽ nào vẫn lại khư khư những suy nghĩ về cuộc đời như thuở ban đầu năm bốn nhăm?

Lớp người năm bốn nhăm, chứng kiến những sự kiện vĩ đại nhất của hành tinh. Với thế giới, đó là chiến thắng của đồng minh trước trục phát xít. Còn đối với Việt Nam chúng ta, đó là chính quyền cách mạng thay thế cho chính quyền thực dân và phong kiến.

Lớp người năm năm tư, chứng kiến chiến thắng vĩ đại Điện Biên phủ nhưng cũng chứng kiến một sự kiện là nỗi đau của dân tộc: đất nước phải chia làm hai. Ta vẫn nói thời Trịnh-Nguyễn phân tranh là thời kỳ nồi da xáo thịt. Thời năm năm tư cũng chính là thời nồi da xáo thịt, có khác gì đâu!

Sau ngày thống nhất đất nước, những tưởng toàn dân tộc ta đã quy về một mẹ, vậy mà ngay sau đó, với một số người của chính quyền cũ lại là thời kỳ kinh hoàng trong cuộc đời. Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói hộ chúng ta: “Nếu ngày 30 tháng 4, có một triệu gia đình vui, thì cũng phải biết là có một triệu gia đình không vui…” Những triệu gia đình đó là nhân dân, là dân tộc. Dân tộc ta đâu cần cái ngày ba mươi tháng tư đó. Chẳng qua thời cuộc bắt, dân tộc chúng ta phải chịu nên mới có ngày 30 tháng tư.

Lại nghĩ về số phận con người. Số phận con người liên quan đến thời cuộc nhiều lắm.

Ngày nào, tuổi thanh niên phơi phới, nhiệt huyết căng tràn, khí thế lắm, thanh niên là phải “xẻ dọc Trường Sơn cứu nước”. Mình cũng là một trong số người ấy. Mình có coi người phía bên kia là kẻ thù không?
Không hẳn coi họ là kẻ thù nhưng không dám nói. Họ cùng người Việt mình cả mà. Nếu gia đình mình không ở phía Bắc mà lại ở phía Nam, đương nhiên là bạn của họ. Phải coi họ là kẻ thù, phân vân lắm. Nhưng mà sợ, không dám nói điều đó.

Ngày nay cũng vậy, lòng lại rối lên những phân vân. Bạn mình một thuở, ngày ấy, mình vẫn coi họ là bạn tốt, giúp ta nhiều thứ lắm trong cuộc chiến tranh. Ngày đó ai cũng nói như vậy chứ có ai biết đâu phía bên kia của lòng tốt là gì. Làm người dân thấp cổ bé họng, phải chấp nhận và công nhận là điều đương nhiên. Biết gì mà nói!

Ấy vậy rồi sự kiện năm bảy chín, Trung Quốc, bạn tốt ngày hôm qua, hùng hổ tràn quân qua biên giới phía Bắc tàn phá và bắn giết đồng bào ta. Lại nhắc lại lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ông đến các tỉnh biên giới, lúc quân Trung Quốc vừa rút: “Sao họ lại tàn ác như vậy?”. Cái tàn ác của giặc Tầu ngày đó chính là sự tàn ác với nhân dân, với dân tộc mình.

Thời cuộc như vậy, làm sao lòng người không thay đổi? Hà cớ gì cứ bám lấy cái vô lý ngày xưa?

Hôm nay Biển Đông nổi sóng. Sóng đó có nguồn gốc từ phương Bắc, bạn của mình một thuở, thù của mình ngày nay. Trong cuộc đấu tranh này, ai đó vì nhiệm vụ, vì quan hệ quốc tế, cứ “đồng chí, hay ngài” mà xưng hô. Còn đối với người dân, đừng ngăn cản việc người dân coi lũ chúng là kẻ thù dẫu rằng người dân Việt hiểu rất rõ cái giá của nó, nếu phải đánh. “Kẻ thù buộc ta phải ôm cây súng” là thế!

Gần đây, từ mấy sự vụ cưỡng chế để lấy đất ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản lại muốn nói lại về bạn và thù và về nhân dân.

Cứ nghĩ đơn giản bạn và thù phân biệt quá dễ. Thằng nào ủng hộ ta, phò ta, yêu ta thì ta coi là bạn. Thằng nào ghét ta, đánh ta thì ta coi là thù. Tưởng là đơn giản, vậy mà không thế. Sự đời thật cũng nhiều điều khiến không muốn nói rồi cũng phải nói. Mình thấm thía cái lời của ông cựu Thủ tướng Anh quốc: “Trên thế giới này, không có kẻ thù vĩnh viễn, bạn bè vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh cửu”.

Bạn Tầu ngày xưa, trong chiến tranh chống Mỹ, đối với ta, cứ coi là tốt đi, nhưng ngày nay nó phá ta, đánh ta, cướp đất cướp biển của ta, nhất định nó không tốt, nó là thù. Thằng Mỹ ngày xưa nó đánh ta, nó xấu, là thù nhưng bây giờ nó chơi với ta, vậy thì có thể coi nó là bạn. Tốt hay không, có thời gian phán xét.

Trở lại mấy vụ cưỡng chế. Bà con mình, tức là nhân dân, những người từng nuôi nấng quân mình, hết lòng ủng hộ chính quyền, cũng chính là đội quân chủ lực đưa cách mạng tới thành công, để lập ra nhà nước hôm nay, bỗng dưng bị coi là kẻ thù, bị đánh, bị đàn áp, bị bắt, bị bỏ tù tơi bời. Ai biến nhân dân thành kẻ thù nhanh thế? Đất nước này bây giờ là nước nào, là của ai, theo chế độ nào? Hoang mang quá.

Vậy hóa ra, phân biệt được bạn được thù và nhân dân không dễ (mà ở trên, mình lại nói là quá đơn giản). Phải đặt câu hỏi tại sao lại có chuyện như vậy? Cũng có thể gọi là kinh qua nhiều nỗi ở đời, ngẫm cái cuộc đời mình trải qua cũng nhiều sự kiện, tự trả lời một đôi điều.

Đó là sự phản bội. Phản bội lại dân tộc, phản bội lại nhân dân. Sự phản bội đó đã biến máu xương của hàng triệu người tạo nên cơ ngơi đất nước hôm nay, thành một thứ hàng rẻ rúng. Có những sự hi sinh mà nhiều năm trôi qua còn không dám nhắc đến, muốn quên đi trong yên lặng.

Đó là sự tham lam cả về tiền bạc và danh vọng. Vậy là con đường cuối cùng của các triều đại vua chúa ngày xưa cũng đã lặp lại. Thử nhìn lại lịch sử nước nhà xem, các triều đại thống trị đất nước ta đều có một kết cục như vậy. Tham lam, ăn chơi hoang tàn vô độ, buông lỏng triều chính và biên cương xã tắc để rồi bị một lực lượng mới lật đổ. Lực lượng mới này chính là nhân dân. “Lật thuyền cũng là dân” là thế. Cay cú vì mất tất cả, phải cậy cục ngoại bang. Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống chính là sản phẩm của một chế độ thối nát.

Đó là sự biến chất, suy thoái đạo đức dẫn đến hèn nhát. Những thế hệ cai quản đất nước sau này đã mấy người kinh qua những ngày gian nan mà hiểu được sự hi sinh, nên cái nghĩa của sự phấn đấu hi sinh cho đất nước mà họ nói đều sách vở và giáo điều và rất cũ kỹ. Càng nguy hại hơn khi đất nước rơi vào những con người cơ hội. Sự biến chất, suy thoái đạo đức dẫn đến hèn nhát trước kẻ thù là điều dễ hiểu.

Đó là sự im lặng của một số lớn những người có hiểu biết, cam chịu cảnh “an phận”. Bất kỳ thời nào cũng vậy, số này vẫn đông, họ lựa theo chiều gió để sống với một chút lấn cấn lương tâm nhưng rồi vì sự tồn tại của cá nhân, có thể có cả bổng lộc trong đó, họ đành tặc lưỡi cho qua. Chính những loại người này, một khi chế độ này sụp đổ, họ sẵn sàng vất bỏ để theo chế độ mới, hoàn toàn không phải vì sự tự giác, vì sự dấn thân thay đổi chế độ cũ, mà chính là vì bản năng sinh tồn của họ. Liên bang Xô-viết sụp đổ là một dẫn chứng. Chính quyền mới lên, nhưng tất cả bộ máy hành chính của nó vẫn tồn tại, quân đội và cảnh sát vẫn tồn tại trên cơ sở của chế độ cũ.

Đó là chính sách biến đám đông đảng viên và một phần quần chúng thành những kẻ mê muội chỉ biết phục tùng mệnh lệnh, tin vào những đức tin mù quáng. Nếu cuộc vận động học tập “Đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh” đạt kết quả tốt làm gì có những chuyện dùng dùi cui đánh dân, thậm chí vô cảm hơn bất nhân, bất nghĩa hơn loài cầm thú, đánh những người mẹ, người bà đã bảy tám chục tuổi… rồi vất ra quốc lộ 10.

Lịch sử đã chứng minh, hai chục triệu đảng viên của Liên Xô đâu có giữ được nhà nước Xô-viết, mấy triệu đảng viên Triều Tiên không còn là những người của nhân dân mà là công cụ, những chi tiết của cỗ máy để bảo vệ chính quyền. Tám chục triệu đảng viên Trung Quốc có giống với lũ hồng vệ binh thời “cách mạng văn hóa” ngày nào? Đối với Việt Nam, ai cũng biết, gần bốn triệu đảng viên Việt Nam không còn là những tấm gương để quần chúng noi theo mà hầu hết chỉ là một lũ cơ hội, ai cũng biết vào đảng là để được leo cao hơn trong bộ máy quyền lực rồi từ đó mong hưởng bổng lộc nhiều hơn. Những phần tử như vậy không gì đích xác hơn là một lũ cơ hội. Đất nước này không cần nhiều đảng viên như thế. Số lượng đông không chứng tỏ được đó là một đảng mạnh, cũng không cần đến những đợt học tập đạo đức Bác Hồ dài dằng dặc cả chục năm mà chẳng hề thấy chuyển biến tốt lên, chỉ là một phong trào hữu danh vô thực, tốn tiền bạc của nhân dân.

Viết đến đây lại nghĩ về một con người chân thực, người bác sĩ đi áp tải Bùi Hằng về Vũng Tầu: “Hằng để tôi đưa về nhà an toàn rồi tôi sẽ cởi bỏ quân phục này”. Viết về anh ta là để răn mình, nhắc nhở mình. Làm một người lương thiện chân chính khó lắm, nhiều cửa ải phải vượt qua lắm, đấu tranh trong lòng gay gắt lắm và đặt câu hỏi: có phải chính cơ chế của xã hội này đã tạo nên những kẻ coi dân mình là kẻ thù?

Thời gian vẫn trôi, thời cuộc sẽ thay đổi, chúng ta sẽ có điều kiện nhìn rõ bạn, thù và hiểu về nhân dân mình hơn.

Nguồn: Blog Trần Nhương

Người Buôn Gió - NẾU BẠN BỊ XẾP HẠNG PHẢN ĐỘNG

Đây là câu chuyện được viết bằng ngôn ngữ Việt Nam, hình ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Không nhất thiết bạn đọc đủ cơ sở để đánh giá rằng nó xảy ra ở nước CHXHCNVN.
Nếu bạn bị liệt vào hạng phản động của nhà cầm quyền thì cuộc đời của bạn sẽ ra sao?
Trước hết tiêu chí để xếp loại phản động là vô cùng phong phú. Ví dụ bạn chỉ trích một chính sách nào đó của nhà cầm quyền về giao thông, thuế, giáo dục….
Hay bạn phản đối nước láng giềng xâm lược, bắn giết đồng bào của bạn.
Hoặc bạn bày tỏ sự thông cảm với những người “phản động” khác bị xét xử, tù đày.
Như thế bạn sẽ là phản động với một cụm từ đầy ngôn ngữ luật như “xâm hại an ninh quốc gia”.
Tuy nhiên nếu bạn nợ hàng nghìn người nông dân hàng chục nghìn tỉ và trốn biệt ra nước ngoài bạn chỉ cùng lắm mang tội với nông dân như tội“lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”.
Nếu bạn làm thiệt hại cho ngân sách hàng chục nghìn tỷ đồng, ngân sách của một đất nước khốn khổ mà học sinh đến trường bằng cách bơi qua sông, đu dây qua vách đá thì bạn chỉ bị kết tội “thiếu tinh thần trách nhiệm”.
Còn chức bạn to hơn nữa, gây thiệt hại hơn nữa thì sẽ bị kiểm điểm nội bộ.
Nếu bạn đánh chết người bằng dùi cui, dây điện, gậy, giầy đinh, bắn chết trẻ em bằng súng nhưng bạn là người nhà nước. Bạn nếu không may mắn sẽ bị kết tội là “làm chết người khi thi công vụ”.
Làm chết người, nghĩa là không phải bạn giết người. Làm chết người có thể là bạn sơ ý, cẩu thả để súng cướp cò, dui cui rơi vào sọ người khác khiến họ chết.
Nhưng nếu bạn phản đối một chính sách, bạn sẽ là kẻ trọng tội với đất nước, nhân dân. Bạn sẽ bị kết vào loại phản động, hại dân, hại nước. Sẽ có hàng loạt nhân dân đóng vai nhân chứng lên phản đối bạn ầm ĩ ở phường, ở trên báo chí, họ sẽ thảm thiết, giận giữ như chính bạn đã quỵt tiền họ trốn ra nước ngoài, giết chết người thân của họ, làm thất thoát ngân sách hàng ngìn tỉ đồng, và bạn chính là kẻ đã đẩy trẻ em phải đi học bằng đò qua sông dẫn đến chết đuối. Họ sẽ đòi hỏi phải nghiêm trị, trừng trị thích đáng…và họ hả hê khi thấy bạn bị kết án nhiều năm tù.
Và đó bạn là loại tội phạm “xâm hại an ninh quốc gia”.
Bạn có thể là trí thức, công nhân, cán bộ về hưu, cựu chiến binh.
Đôi khi bạn là kẻ vô học, tiền án, tiền sự và cuộc đời đầy những năm tháng đen tối trong vũng bùn của giới hạ lưu. Một ngày nào đó bạn được làm bố, bạn say sưa với sinh linh bé bỏng ấy quên cả tháng ngày, bỗng nhiên ngày nào đó gió mưa bạn ngồi ở nhà ngắm thấy nụ cười trên miệng con trai vừa đầy tháng, bởi óc tưởng tượng phong phú bạn hình dung con trai bạn hai mươi năm sau sẽ sống trong một xã hội thế nào. Bạn bắt đầu tìm hiểu xã hội.
Và con đường thành phản động của bạn bắt đầu được cơ quan an ninh ghi nhận, theo dõi và đưa ra cách xử lý.
Ngày nào đó công ty bạn đang làm bị công an đến hỏi về thuế, về nhân lực, về bảo hiểm, tiền lương, phòng cháy chữa cháy, về đăng ky kinh doanh…giám đốc của bạn nơm nớp lo sợ không biết chuyện gì. Vì người ta cứ đến từng tốp và lạnh lùng sát khí gườm gườm chất vấn. Đến lúc giám đốc bạn hoảng lắm rồi, người ta mới hỏi về bạn làm gì ở công ty, bạn được nhận vào thế nào, ngày nọ ngày kia bạn làm gì, công ty có bố trí đi đâu ….
Bạn sẽ làm tiếp để công ty hàng ngày có công an đến làm việc như thế chứ?
Tất nhiên là không rồi. Bạn sẽ đi tìm việc khác.
Lần này bạn làm cho một nơi khác, ở đây tài chính sạch sẽ lắm. Nhưng giám đốc bạn vẫn có người tìm đến giới thiệu là an ninh cấp cao hỏi về bạn. Giám đốc bạn lần này là người mạnh mẽ, anh ta có thể thoái thác không hợp tác trả lời. Nhưng anh ta có thể mạnh mẽ, còn bố mẹ anh ta ở quê thì không sao mà yên tâm khi có người của nhà chức trách đến nhà tìm và thông báo con họ đang dung túng, tiếp tay cho một đối tượng “phản động”. Rồi bố mẹ anh ta hoang mang, lo lắng liên tục hỏi anh ta, thậm chí họ thay phiên nhau từ quê lên thành phố để xem thằng phản động đang làm gì ảnh hưởng đến con mình.
Bạn lại thất nghiệp, giờ bạn hiểu đi tìm công việc ở nơi khác nữa là điều vô ích.
Bạn chọn công việc gì làm trong vài ngày, nhanh chóng, tiền trao cháo múc như việc đóng một cái tủ nhôm kính, hàn một cái chuồng cọp phơi quần áo, làm một tấm biển quảng cáo cho cửa hiệu mới mở hoặc viết một bài cho một cá nhân, công ty nào đó muốn quảng cáo. Kiếm chút tiền không nhiều, nhưng nhanh chóng vào túi khi những điều khác chưa đến.
Nhưng cuộc đời không hẳn đã đen tối với bạn. Có những người hiểu bạn, họ lặng lẽ gửi bạn chút quà nuôi con. Những giúp đỡ đó làm bạn cầm cự được với cuộc sống khó khăn. Đôi khi bạn chẳng biết là ai giúp bạn nữa, vì họ sợ liên luỵ, sợ nhà chức trách nên không muốn ra mặt.
Các nhà chức trách thêm bạn tội nữa “nhận tiền của các thế lực thù địch làm phương tiện hoạt động chống phá nhà nước nhân dân”.
Những món tiền nhỏ này thật sự bạn không bao giờ biết nó đến với bạn lúc nào, không bao giờ bạn biết nó còn đến nữa hay không. Bởi sự giúp đỡ là tự nguyện, bột phát. Không phải là trả lương, thế nên có người gửi bạn 1 triệu từ năm này, đến 3 năm sau họ gửi lần nữa, tuỳ theo khả năng của họ.
Nếu bạn muốn sắm một cái điều hoà, bạn không thể yêu cầu người ta cho bạn tiền để sắm một cái điều hoà. Vì họ không có trách nhiệm ràng buộc nào phải giúp bạn cả.
Một ngày nào đó, cuộc sống mở cho bạn một thay đổi, chẳng hạn một chính phủ nào đó vô tình biết được bạn có khả năng về văn hoá, nghệ thuật nào đó. Họ cho bạn một suất học bổng, khi học xong họ sẽ có việc làm cho bạn. Cuộc đời bạn bỗng nhiên tươi tắn như loài cây trên sa mạc gặp mưa. Bạn có kiến thức, có việc làm, một việc làm tốt như dịch sách, đồng lương đủ cho gia đình bạn sống tươm tất. Và hơn nữa bạn từ một thằng lưu manh ở đường phố trở thành một người làm văn hoá. Đó là ước mơ và đích đến là một cuộc mưu cầu hạnh phúc mà bất kỳ ai cũng muốn.
Nhưng nhà chức trách sẽ ngăn ước mơ của bạn lại. Bởi trong quan điểm của họ thì ước mơ của một kẻ có vấn đề về an ninh quốc gia thì kiểu gì cũng có vấn đề về an ninh quốc gia.
Bạn sẽ gào lên ư, đừng! Hãy chấp nhận vui vẻ, điều quan trọng là đừng bao giờ buồn, lo, sợ vì những việc mà họ gây ra cho bạn. Bởi mục đích chính của họ là làm bạn đau khổ những thứ nhưnhà tù, công việc, cấm đi lại, hàng xóm hậm hực dòm ngó, bạn bè cũ xa lánh…tất cả những điều đó họ làm cốt để bạn phải đau khổ. Để họ chứng minh họ có quyền tước đoạt ước mơ, cuộc sống, huỷ hoại hay ban phát cho ai đó.
Đừng nghĩ họ nhân đạo không bỏ tù bạn. Chẳng qua vì cuộc sống của bạn bây giờ và nhà tù không khác nhau là mấy về vật chất cũng như tinh thần. Nếu bạn là tiến sĩ, có nhà to, xe hơi, nhà cho thuê họ sẵn sàng quẳng những thứ rác rưởi để làm cớ bắt bạn, hay bạn đang có bệnh trong người họ mới giam cầm bạn. Còn khi bạn chả còn gì để mất, người ta làm mọi cách để tước đoạt tinh thần bạn, khiến bạn khiếp sợ, hãi hùng và ngày nào đó bạn lê lết đến van xin họ, cam đoan, cam kết, lạy lục thề thốt, khai báo lập công…lúc đó chưa chắc họ đã buông tha cho bạn.
Hãy gắng tìm những niềm vui ngay cả trong những lúc tồi tệ nhất. Hãy gắng đọc khi có thể những tác phẩm như Quần Đảo Ngục Tù, Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù, Một Ngày Trong Đời Của I Van, Bá Tước Mông Tơ Crit To, Pa Pi Lon, Đêm Giữa Ban Ngày, Chuyện Kể Năm 2000.
Hãy tìm lối thoát trong cuộc sống trắc trở ở ngay trái tim mình.
nbg1.jpgnbg2.jpgnbg3.jpgngb4.jpgnbg5.jpg

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

CUỘC CHẠY TRỐN CỘNG SẢN KINH HOÀNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

1* Mở bài
Mỗi năm, ngày 30 tháng tư gợi lại vết thương đau buồn và mất mát của người Việt hải ngoại, người Việt mất nước, người Việt tỵ nạn, người Việt chạy trốn chế độ độc tài Cộng Sản.

2* Chiến dịch “Gió lốc” (Operation Frequent Wind)
2.1. Chiến dịch Frequent Wind
Chiến dịch Gió lốc (Operation Frequent Wind) là một cuộc di tản bằng trực thăng của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa, diễn ra từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Có 50,493 người, trong đó có 2,548 trẻ mồ côi được di tản từ phi trường Tân Sơn Nhất. Các phi công đã bay tổng cộng 1,054 giờ, với 682 chuyến bay trong chiến dịch. Đã có hơn 7,000 người được di tản bằng trực thăng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Sài Gòn.
Chiến dịch có 4 phương án:
1. Phương án 1. Di tản bằng phi cơ dân sự tại phi trường Tân Sơn Nhất
2. Phương án 2. Di tản bằng phi cơ quân sự
3. Phương án 3. Di tản bằng tàu thuyền từ cảng Sài Gòn
4. Phương án 4. Di tản bằng trực thăng, bóc người đưa đến các chiến hạm ngoài khơi.
Ngày 28-4-1975, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và bị 5 phi cơ A-37 ném bom, nên di tản bằng phi cơ cánh cố định chấm dứt, và phương án Operation Frequent Wind, di tản bằng trực thăng bắt đầu.
2.2. Giai đoạn chuẩn bị
Đây là một chiến dịch được chuẩn bị trước rất tỉ mỉ. Cả một hạm đội gồm 50 chiến hạm được huy động từ nhiều tháng trước ngày 30-4-1975.
Đầu tháng 3 năm 1975, khu trục hạm USS Kirk được lịnh nhổ neo từ căn cứ San Diego, để đi hộ tống hàng không mẫu hạm USS Hancock. Hàng không mẫu hạm Hancock được lịnh cặp bến Hawaii, để đưa những chiến đấu cơ lên bờ và thay vào đó bằng những trực thăng vận tải của TQLC/HK, rồi trực chỉ đến Biển Đông.
Chiếc USS Kirk bắt đầu vào cuộc, với Chiến dịch Eagle Pull để di tản 300 người Mỹ rời khỏi Phnom Penh. Campuchia thất thủ ngày 17-4-1975. Sau đó, chiếc USS Kirk xuôi xuống phía nam, hướng về Singapore để cùng với khu trục hạm USS Cook hộ tống hàng không mẫu hạm Midway, thả neo chờ tham gia chiến dịch Frequent Wind.
2.3. Kế hoạch bí mật, không chỉ cứu những con tàu
Chiến dịch Frequent Wind do ông Richard L. Armitage phụ trách. Ông nguyên là một sĩ quan HQ/HK, lúc đó là đặc phái viên của Bộ QP/HK, thực hiện nhiệm vụ lập kế hoạch di tản những chiến hạm của HQ/VNCH, cụ thể là giải cứu những chiến hạm và kỹ thuật công nghệ được trang bị trên những chiến hạm đó. Nếu không giải cứu được thì phá hủy, để không bị lọt vào tay CSBV làm chiến lợi phẩm. Nhiệm vụ chính của ông Armitage là cứu những con tàu, không để lọt vào tay VC.
Khu trục hạm USS Kirk cùng thủy thủ đoàn 200 người, được lịnh đến đảo Côn Sơn, là nơi được chọn để tập trung tàu bè và người di tản tại đó.
Một vài tuần lễ trước ngày 30-4-1975, ông Armitage đã có mặt tại văn phòng của người bạn thân là đại tá Đỗ Kiểm, Tư lịnh phó HQ/VNCH. Hai người lập kế hoạch giải cứu những chiến hạm của HQ/VNCH.
Đại tá Kiểm cho ông Armitage biết rằng, muốn đưa những con tàu rời VN, thì phải cần thủy thủ đoàn, nhưng thủy thủ VN sẽ không đi, nếu gia đình của họ không được đi theo. Kế hoạch cứu thoát những con tàu đưa đến việc di tản người lánh nạn Cộng Sản. Ông Armitage không báo cáo với thượng cấp về việc nầy, vì lo ngại chính quyền Mỹ có thể không giải cứu họ.
Cả hai ông, đại tá Kiểm và Armitage không ước lượng được con số người di tản là bao nhiêu.
2.4. Chiến hạm USS Kirk bắt đầu tiếp nhân trực thăng di tản.
Khu trục hạm USS Kirk là mục tiêu cho trực thăng đáp xuống.
Từ sáng sớm ngày 29-4-1975, USS Kirk loan báo, có một sân đáp dành cho trực thăng trên boong, nhưng suốt buổi sáng không có trực thăng nảo đến cả. Mãi đến xế chiều, một trực thăng UH-1 của KQ/VNCH dẫn theo 16 chiếc UH-1, 1 chiếc CH-47 Chinook khổng lồ với 2 chong chóng và 1 chiếc vũ trang Cobra, cùng với 200 người di tản đã có mặt trên chiếc Kirk. Trong số UH-1, có 1 chiếc của Air America, là hảng hàng không của CIA.
2.5. Hỗn loạn ở Côn Sơn
Ngày 1-5-1975, chiếc Kirk đã có mặt ở Côn Sơn từ hừng sáng. Đã có 30 tàu HQ/VNCH, hàng chục tàu đánh cá và tàu chở hang, đầy khẳm những người tỵ nạn ở khu tập trung nầy.
Ông Kent Chipman, một người thợ máy, lúc đó 21 tuổi, thuật lại: “Những con tàu nhồi nhét đầy người, tôi không thể xem bên dưới lòng tàu, nhưng trên boong tàu thì chật cứng, người san sát nhau”.
Một tài liệu lịch sử cho rằng có khoảng 30,000 người.
Một số tàu không còn chạy được, nên họ cùng lôi kéo nhau đi. Một chiếc quá khẳm nên đang chìm. Nhiều người trên tàu nhảy xuống biển. Một trung úy HQ/VNCH nổ lực giúp hành khách rời khỏi chiếc tàu đang chìm. Hành khách được chuyển sang tàu kế bên bằng một tấm ván gỗ hẹp. Cảnh hỗn loạn xảy ra.
Một người đàn ông ra tay đánh ngã một phụ nữ phía trước anh ta, cô bị rơi xuống biển, và được cứu vớt.
“Người trung úy VN không hề lưỡng lự, anh ta đến ngay sau anh chàng đó, rút súng bắn một phát vào đầu giết chết anh ta, rồi đá xác qua một bên, tiếp tục cứu người. Cú bắn thật kinh hoàng, nhưng ngăn chặn được hỗn loạn”. Ông Stephen Burwinkel, người y tá trên chiếc Kirk thuật lại như thế.
2.6. Các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa tự giải giới
Đến thứ ba, ngày 6-5-1975, toàn thể hạm đội di tản của HQ/VNCH gần đến cảng Subic (Philippines).
Lịnh ban ra: “Tất cả những chiến hạm phải tự giải giới hoàn toàn”. Tàu chiến Mỹ cho những Cano cặp vào những chiếc tàu nầy để hốt hết súng ống, đạn dược.
Trên đường đi, thủy thủ và y tá Mỹ cung cấp nước uống, thức ăn, thuốc men và khám bịnh cho người tỵ nạn.
Trên đại dương, ở hải phận quốc tế, chiếc tàu nào đăng ký ở quốc gia nào, mang cờ nước nào, thì được xem như là lãnh thổ của quốc gia đó. Vì thế, một đứa trẻ được sinh ra trên tàu, thì có quyền xin được mang quốc tịch của quốc gia của chiếc tàu.
Qua 6 ngày trên biển, trong 30,000 người tỵ nạn, đã có 3 người thiệt mạng và được thủy táng, vì Philippines không cho phép mang xác chết lên nước họ.
Khi đoàn tàu đến gần Philippines thì thuyền trưởng chiếc Kirk, nhận được một tin không tốt lành gì. Đó là chính phủ của Tổng thống Ferdinand Marcos e ngại rằng sự hiện diện của tàu HQ/VNCH có thể gây khó khăn về ngoại giao của họ, đối với chính quyền CSVN. Hạm trưởng Jacobs của chiếc Kirk kể lại: “Chính phủ Philippines không cho phép chúng tôi vào cảng Subic và đề nghị những con tàu nên trở về Việt Nam”.
Đại tá Đỗ Kiểm và ông Armitage đưa ra một giải pháp buộc Tổng thống Ferdinand Marcos phải chấp nhận. Đó là cờ VNCH được hạ xuống và trương cờ Mỹ lên, chứng tỏ những con tàu nầy là của Hoa Kỳ.
Mà thật, những con tàu nầy là của HK. Cơ sở lý luận là, trong chiến tranh, tàu HK được trao cho VNCH như là một khoản cho mượn để chống Cộng Sản, nhưng bây giờ chiến tranh kết thúc, HK thu hồi những chiếc tàu nầy trở lại. Thế là một cuộc tìm kiếm khó khăn, làm sao có đủ 30 lá cờ Mỹ trong lúc ở trên mặt biển.
Buổi lễ hạ cờ chính thức.
Hàng chục ngàn người VN trên các con tàu bắt đầu hát quốc ca. Cờ VNCH hạ xuống trong những tiếng bật khóc. Khóc. Và khóc… Chưa bao giờ có một buổi lễ hạ cờ đầy xúc động đến như thế.
Lãnh thổ VNCH cuối cùng đã mất thật sự. Cái đau gậm nhấm khôn nguôi của người Việt miền Nam là mất nước. Những người còn lương tri thì không nên quên nổi nhục đó.
3* Chiến dịch di tản trẻ sơ sinh (Operation Babylift)
3.1. Chiến dịch
Tháng 4 năm 1975, miền Nam đang sụp đổ dưới sự tấn công của Cộng Sản Bắc Việt, Tổng thống Gerald Ford lý lịnh cho thực hiện chiến dịch di tản để cứu trẻ “mồ côi”, cho rằng, có thể VC sẽ không nương tay, vì một số là con lai Mỹ.
Hoàn cảnh buộc phải di tản trẻ thơ
Những trẻ mang tên là trẻ “mồ côi”, thật ra là đã có cha hoặc mẹ còng sống, nhưng vì hoàn cảnh nào đó, họ đã từ bỏ các em, đưa vào cô nhi viện, mang tên trẻ mồ côi.
Một số những người chăm sóc các em là những người ngoại quốc vào VN làm công tác thiện nguyện cho các nhà thờ và các tổ chức từ thiện nước ngoài. Họ phải rời VN. Trong hoàn cảnh vô củng hỗn độn của những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, hàng chục ngàn gia đình VN đang chờ di tản. Trẻ mồ côi cũng không thể bị bỏ rơi trong hoàn cảnh hỗn độn đó được. Những người thiện nguyện HK đã nổ lực vận động, đưa các em ra khỏi VN để tiếp tục được chăm sóc và nuôi dưỡng. Các em đã bị cha mẹ bỏ một lần rồi, không thể bị bỏ lần thứ hai, cho nên việc di tản trẻ mồ côi là đầy lòng nhân đạo.
Một điển hình là bà Betty Tisdale, đã nổ lực chạy đôn chạy đáo để hoàn thành thủ tục làm hồ sơ xuất cảnh cho 219 trẻ sơ sinh rời VN. Bà Tisdale thuật lại: “Tôi chạy đến bịnh viện Nhi đồng, xin 225 mẫu giấy khai sanh, rồi điền vào ngày giờ và nơi sanh một cách nhanh chóng. Tôi hoàn toàn không biết những em bé nầy là con của ai, sinh ra lúc nào, nơi nào. Những ngón tay của tôi cứ viết đại để tạo ra những bản khai sanh. Tôi tức tốc đến gặp đại sứ Graham Martin xin phương tiện di tản cho các em. Đại sứ bằng lòng với điều kiện các thủ tục giấy tờ phải được chính phủ VN chấp thuận.”
Ông Edward Daly, chủ tịch World Aiways đang có mặt ở VN, trong lúc đó, thì con gái của ông là một thiện nguyện viên đang ở Colorado, đánh điện xin ông giúp đở cho trẻ mồ côi được ra đi.
Chiến dịch Babylift được thực hiện trong 3 tuần lễ, từ ngày 2-4-1975 đến ngày 26-4-1975. Tổng cộng có 26 chuyến bay, đã đưa 2,548 trẻ mồ côi đến Hoa Kỳ. Sau đó, các em được các gia đình Mỹ nhận làm con nuôi.
3.2. Bắt đầu bằng tang tóc
Chiếc Lockheed Martin C-5A Galaxy, được xem là phi cơ vận tải lớn nhất thế giới, đã từng chở xe tăng và cầu quân sự nặng 70 tấn, từ căn cứ không quân Clark (Philippines) được phái đến Sài Gòn, trong nhiệm vụ di tản trẻ thơ, bắt đầu từ ngày 4-4-1975.
Ngày 4-4-1975, lúc 4:15 chiều, sau khi 328 trẻ em và người lớn, trong đó có nhân viên sứ quán Mỹ và nhiều nhân viên của các đơn vị Mỹ, được đưa lên máy bay. Chiếc C-5 bắt đầu rời đường băng.
Khoảng 12 phút sau, cách phi trường Tân Sơn Nhất 64km, thì một biến cố xảy ra. Cửa sau, nằm dưới bụng phi cơ, là nơi đưa hành lý lên tàu, đã bung ra và bị thổi bay mất. Hành khách bị xô ngã, nhiều người bị thương. Một nhân viên phi hành ngồi gần cửa bị hút bay ra khỏi phi cơ. Những người còn lại bất tĩnh do thiếu dưỡng khí. Hai phi công chính và phụ không còn điều khiển được phi cơ, nên quyết định trở lại Sài Gòn.
C-5 không phải là phi cơ chở hành khách, cho nên những mặt nạ tiếp dưỡng khí không được thiết kế cho trẻ em, vì thế, các em được bế lên cao để gắn mặt nạ dưỡng khí vào. Linda Adam, một y tá quân y kể lại như thế.
Khi còn cách Sài Gòn 5km, phi cơ mất độ cao, lao mình ầm ầm xuống cánh đồng lúa ngập nước, đụng phải con đê, gãy làm 4 khúc, và bình xăng phát cháy.
Trên cánh đồng lúa thuộc khu vực Cát Lái, cảnh tang tóc với những xác người nằm vương vãi trên bùn đất.
153 người thiệt mạng, trong đó có:
98 trẻ em. 34 nhân viên bộ QP/HK. 5 dân sự. 11 nhân viên KQ/HK. Và những y tá của nhiều quốc gia.
175 người sống sót.
Có nhiều giả thuyết về lý do xảy ra tai nạn: cho rằng bị phá hoại do những người thân Cộng muốn phá kế hoạch di tản trẻ thơ, do lỗi thiết kế của công ty Lockheed, và cho rằng phi cơ không được bảo trì chu đáo.
Người chị của một y tá thiệt mạng, đại diện cho các nạn nhân, đâm đơn kiện tập thể, đòi công ty Lockheed bồi thường 200 triệu USD. Việc điều tra được tiến hành, và cho mãi tới năm 1990 vẫn chưa có kết quả.
4* Những di sản của chiến dịch Babylift
4.1. Không có hồ sơ lý lịch cá nhân
Ngày 5-4-1976, tờ Time cho biết, nhiều trẻ em hoàn toàn không có hồ sơ về lý lịch cá nhân, đó là những con người không có họ và tên, không có giấy tờ chứng minh ngày và nơi sinh, quốc tịch…cho nên không thực hiện hồ sơ con nuôi.
Cục di trú và nhập tịch cho biết, có 1,671 em hợp lệ, và 353 không hợp lệ.
4.2. Bi kịch gia đình
Nhiều trường hợp đau lòng khó xử xảy ra.
- Bà Hà Thị Võ
Người từng đưa 3 đứa con đi theo chương trình Babylift, khi đến Mỹ, đưa đơn kiện, khi nhận ra đứa con út 3 tuổi tại một gia đình nhận con nuôi, bà đòi con lại. Cậu bé không nhận bà, khiến cho nhà chức trách bác bỏ yêu cầu của bà.
- Bà Doãn Thị Hoàng An
Bà An ở bang Montana, nhận mình là mẹ ruột của cậu bé Ben, 4 tuổi, được vợ chồng Johnny và Bonnie Nelson nhận làm con nuôi từ chương trình Babylift.
Khi ra toà, cậu bé Ben không nhận bà Hoàng An, không có phản ứng trước những cử chỉ triều mến và thương yêu của bà Hoàng An, dù vậy, tòa phán quyết cậu Ben thuộc về bà mẹ Việt Nam.
Thế là vợ chồng Nelson tiếp tục đưa đơn kiện lên toà thượng thẩm.
5* Trở về cố hương
5.1. Trẻ mồ côi trở về Việt Nam trong vai trung tá Mỹ
Cô Kimberly Mitchell có chuyến về Việt Nam trong vai một trung tá Mỹ.
Gần 40 năm sau khi được một trung sĩ Mỹ, thuộc KQ/HK và vợ ông, nhận làm con nuôi năm 1972, cô Mitchell được biết là một trẻ sơ sinh mang số 899, bị bỏ rơi tại cô nhi viện Thánh Tâm, Đà Nẳng.
Trung tá Mitchell hiện là Phó giám đốc văn phòng Trợ giúp Quân nhân và Thân nhân tại Bộ QP/HK, cho biết: “Tôi muốn cố gắng nối kết lại với quá khứ còn chưa biết của mình. Trung tá Mitchell đã thăm Sài Gòn và Đà Nẳng trong chuyến đi một tuần lễ về VN.
Chuyến thăm tại trại mồ côi Thánh Tâm, nay là một tu viện, được coi là phần xúc động nhất của chuyến đi. Tại tu viện, Mitchell gặp “Sơ” Mary, là người đã từng làm việc trong thời gian tiếp nhận em bé số 899 vào cô nhi viện. “Sơ Mary cho biết, cái tên mà họ đặt cho tôi là Trần Thị Ngọc Bích, nghĩa là viên ngọc quý. Đây là chuyến thăm của một đời người, nghĩa là một lần duy nhất. Tôi chắc chắn sẽ không chờ 40 năm nữa để quay trở lại”, Mitchell thuật lại.
5.2. Phim Ngưòi con gái Đà Nẳng (The daughter from Da Nang)
Phim tài liệu The daughter from Da Nang được đề nghị lãnh giải Oscar về loại phim tài liệu. Phim đã chiếm nhiều giải nhất trong các Đại Hội Điện Ảnh (Film Festival) Hoa Kỳ năm 2002: Sundane Film Festival, San Francisco International, Ojai Film Festival, Durango, Colorado, Texas, New Jersey International, Nashville, Cleveland.
Nội dung phim
Vào những ngày sau cùng của cuộc chiến VN, chính phủ Gerald Ford đã bỏ ra 2 triệu USD để mở chiến dịch Babylift. Gần 3,000 trẻ mồ côi từ VN sang Hoa Kỳ, Canada, Pháp và Úc để làm con nuôi.
Cuộc di tản bắt đầu bằng một tai nạn kinh hồn làm chết hàng trăm trẻ em.
Cuốn phim xoay chung quanh cuộc đời của Heidi Bub và trong chuyến đi tìm mẹ ruột sau 22 năm.
Heidi Bub sinh năm 1968 tại Đà Nẳng, con của bà Mai Thị Kim và một quân nhân Hoa Kỳ.
Chồng bà Kim là Đỗ Hữu Vinh, từ năm 1964, đã bỏ vợ và 3 con ở lại Đà Nẳng, nhảy núi theo Việt Cộng chống Mỹ.
Bà Kim vào làm công nhân trong căn cứ Mỹ ở Đà Nẳng. Ở đó, bà đụng một ông lính Mỹ rồi sanh ra Mai Thị Hiệp (Heidi)
Khi VC đánh vào Đà Nẳng, vì sợ con lai Mỹ bị VC khủng bố, nên bà đưa con vào Hội Cha Mẹ Nuôi lúc Heidi 6 tuổi.
Khi sang Mỹ, Mai Thị HIệp được bà Ann Neville, một phụ nữ độc thân, khoa trưởng ở một trường đại học, nhận làm con nuôi, tên là Heidi Bub.
Bà Ann Neville sinh sống ở bang Tennessee, thánh địa của kỳ thị chủng tộc Klu Klax Klan. Bà che dấu nguồn gốc và cố làm cho Heidi giống 101% như Mỹ để bảo vệ con.
Về vật chất, Heidi không thiếu thốn gì cả, nhưng tình cảm giữa hai mẹ con rất khô khan cằn cỗi, thiếu hẳn những bộc lộ tình thương mẹ con. Bà Ann quá nghiêm khắc. Cuối cùng, bà đuổi Heidi ra khỏi nhà mà không giải thích lý do.
Lúc 6 tuổi, Heidi tưởng rằng mình không ngoan nên bị mẹ ruột từ bỏ. Lúc 22 tuổi, cô có mặc cảm, có lẻ mình quá tệ hại nên đã bị mất mẹ hai lần.
Năm 22 tuổi, Heidi bắt đầu tìm mẹ ruột. Trong lúc đó, ở VN, bà Mai Thị Kim cũng ra sức tìm lại đứa con.
Năm 1991, mẹ con bắt liên lạc được, qua một nhân viên của sứ quán HK. Heidi bắt đầu học tiếng Việt.
Năm 1997, ký giả Trần Tương Như, người VN đầu tiên mà Heidi tiếp xúc tại Mỹ. Trần Tương Như giúp Heidi trong chuyến về VN gặp lại mẹ ruột.
Tại phi trường Đà Nẳng, Heidi gặp lại mẹ ruột và các anh chị cùng mẹ khác cha. Tiếp theo là những tổ chức, như những bữa cơm đại gia đình, viếng thăm hàng xóm, đi chợ…
Chỉ vài ngày sau, Heidi cảm thấy khó chịu, bị sốc vì khác biệt văn hoá. Biên giới riêng tư của mình bị xâm phạm.
Bà Kim muốn ngủ chung giường với Heidi để tâm sự suốt đêm, không muốn rời con, nhưng đối với Heidi thì đó là một cuộc tấn công, lấn át không gian cá nhân. Heidi không có thì giờ để suy nghĩ về những sự việc quá mới, quá xa lạ đối với mình.
Heidi thật sự bị sốc khi các anh chị cho rằng cô có bổn phận phải cung cấp tiền bạc và làm đơn bảo lãnh cho gia đình sang Mỹ.
Heidi nghĩ rằng cô bị bóc lột và bị lợi dụng, nên đã đổi vé máy bay về Mỹ sớm hơn lịch trình ấn định.
Khi về đến Mỹ, cô nhận được thơ của các anh chị khác cha, chủ yếu vẫn là tiền bạc và bảo lãnh. Cô cảm thấy không sốt sắng để trả lời những búc thơ đó.
6* Trí thức Việt kiều giữa hai lằn đạn
6.1. Quê hương là chùm khế ngọt
Người tỵ nạn Cộng Sản đã nhận đất nước đã mở rộng vòng tay cứu giúp và cưu mang mình là quê hương thứ hai. Quê hương nầy, cụ thể là Hoa Kỳ, đã trợ giúp tài chánh bước đầu để xây dựng cuộc sống mới. Con cái người tỵ nạn được có nền giáo dục rất tiến bộ, và nhất là đất nước nầy đã cho ngưòi tỵ nạn một đời sống bình đẳng với người bản xứ, nhân quyền được tôn trọng.
Sống ở quê hương thứ hai, nhiều người cho đó là nơi tạm dung, nên không bao giờ quên quê hương mà mình được sinh ra. Quả thật đó là chùm khế ngọt. Quê hương VN cụ thể là 84 triệu đồng bào của mình trong nước.(Không kể 3 triệu đảng viên CSVN)
Có hai quan niệm và hình thức phục vụ quê hương. Đó là đấu tranh đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho đồng bào trong nước, và một hình thức khác là về nước, phục vụ đảng CSVN góp phần xây dựng quê hương.
6.2. Trí thức Việt kiều bị kẹt giữa hai lằn đạn
Ngày chạy trốn chế độ độc tài CS bằng di tản, vược biên, vượt biển, người tỵ nạn bị VC chửi tơi bời. Tôi xin trích nguyên văn lời của tác giả Tống Phước Hiến như sau:
Trích nguyên văn. “Cộng Sản xem những người vượt biên, vượt biển chạy trốn chúng là bọn phản quốc, phản động, là cặn bã, bọn ăn bám, vong bản, lười biếng…” (hết trích)
Thế rồi Nghị Quyết 36 của đảng CSVN ra đời. Người trí thức tỵ nạn được hoan nghênh khi trở về thành Việt Kiều Yêu Nước.
Những trí thức Việt Kiều Yêu Nước nầy lại bị một lằn đạn thứ hai, cũng không kém nặng nề như những lời chửi bới của Việt Cộng trước kia.
Phục vụ quê hương là không có điều kiện. Tổng thống Kennedy có nói một cây đại ý như sau, ta không nên đòi hỏi tổ quốc phải làm gì cho ta, mà tự hỏi, ta phải làm làm gì cho tổ quốc. Một vị trí thức về nước góp phần xây dựng quê hương, chưa làm được gì mà xin được mua nhà ở VN. Suốt mấy năm không được đáp ứng, bèn than phiền nầy nọ lung tung, khiến cho trí thức chân chính trong nước xem thường ra mặt.
6.3. Câu chuyện mất quyền tỵ nạn của một Việt kiều Pháp
Bài viết của ký giả Xuân Mai trên báo áp phê số 4 tại Paris như sau
“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.”. Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA=Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptride-Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc
Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản.
“Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.
Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417.
Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ giải trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội. Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn. Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm. Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp.
Cái thâm độc của VC là như thế.
Việt Cộng nhìn con người ở bản chất. Một bản chất bị cho là “Phản động, phản quốc, cặn bã…” thì khó gột rửa được. Nếu không có tiền gởi về hàng tỷ đô la mỗi năm, thì cái bản chất đó vẫn tồn tại trong đầu óc của VC. Khúc ruột thừa ngàn dậm vẫn luôn luôn là như thế.
Có những câu hỏi cho “trí thức Việt Kiều Yêu nước”:
Quý vị về phục vụ quê hương với thân phận nào đây?
- Quý vị có được đối xử bình đẳng với người dân trong nước không? Tại sao, người dân được tự do mua nhà, còn quý vị thì không.?
- Có ai được giữ chức quản lý, như trưởng toán, trưởng phòng, trưởng ban hay giám đốc không? Quý vị chỉ là những người thừa hành dưới quyền sai bảo của cán bộ đảng viên Việt Cộng mà thôi.
- Quý vị có được tự do phát biểu ý kiến riêng của mình không? Có được quyền binh vực cho công lý, công bằng, lẻ phải, sự thật hay không? Khi thấy những cảnh bất công, đàn áp đánh đập người yêu nước…quý vị có dám đứng về phía đồng bào của mình không? Nếu không, thì quý vị có thể bị xem như a tòng với tội phạm.
- Về nước phục vụ quê hương mà không dám đứng về phía công lý, lẻ phải của đồng bào mình, thì lương tâm quý vị ra sao?
Hỏi, tức là trả lời vậy.
7* Kết
Ngày 30 tháng 4 mở ra một trang sử đau buồn của dân tộc. Trí thức Việt Kiều nên đồng tâm hiệp lực với trí thức chân chính trong nước, để đòi lại những quyền công dân và quyền con người mà dân tộc 84 triệu người Việt Nam xứng đáng được hưởng ở thế kỷ 21 nầy. Đó là cách phục vụ dân tộc đúng đắn.
Trí thức trong nước rất kiên cường, bất khuất, đã can đảm đòi tự do dân chủ cho đồng bào của mình, thì trí thức Việt Kiều không nên “Áo gấm về làng”, phát biểu linh tinh vô tổ chức để được nhận bằng khen hoặc xin được mua nhà…
Tấm gương của những trí thức chân chính trong nước như: Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, Lê Đăng Doanh, Trần Vũ Hải, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Tụy, Chu Hảo, Lê Hiếu Đằng trong việc đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam, cần được nên theo.
Làm người, nhất là trí thức, thành phần ưu tú của dân tộc, phải nên có tư cách tối thiểu để có thể ngữa mặt nhìn thiên hạ, ở trong cũng như ở ngoài nước.


Trúc Giang
Minnesota ngày 28-4-2012

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

VỀ HUYỀN THOẠI HỒ CHÍ MINH


-
“…Nếu không có Hồ Chí Minh và đảng cộng sản thì Việt Nam sẽ khá hơn hay sẽ kém hơn hiện nay?” thì chắc chắn tuyệt đại đa số người Việt sẽ có cùng một câu trả lời…”
Nhân ngày 19/5, cái gọi là ngày sinh nhật của ông Hồ Chí Minh do đảng CSVN sáng chế, chúng tôi xin đăng lại bài dưới đây dù đã đăng trên Thông Luận cách đây 18 năm để một lần nữa nhận diện một trong những huyền thoại nền tảng của đảng CSVN.
*
Đài “Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại” phỏng vấn tôi về ông Hồ Chí Minh nhân ngày sinh thứ 104 của ông. Sau nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu, đài này muốn cho thính giả nghe quan điểm của một người hoạt động chính trị về một nhân vật chính trị. Câu hỏi đầu tiên của ký giả Hồng Phúc làm tôi bối rối : “Xin ông cho thính giả biết những nét chính về nhân vật Hồ Chí Minh”. Nét đậm đầu tiên của ông Hồ Chí Minh là ông là một người lý lịch không rõ rệt.
Ngay cả ngày sinh của ông, 19/5/1890, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam dùng làm một ngày lễ, cũng không có gì chắc chắn. Ở những dịp khác nhau, chính ông Hồ Chí Minh đã khai những ngày sinh khác nhau, mặc dầu không có nhu cầu phải giấu giếm. Thí dụ như khi nộp đơn xin học Trường Thuộc Địa Pháp, ông khai là sinh năm 1892; sau đó ít lâu, trong hồ sơ gia nhập Hội Tam Điểm (Free Mason) ông khai ngày sinh là 15/2/1895. Cho đến một ngày rất gần đây mọi người vẫn đinh ninh rằng ông họ Nguyễn, tên Nguyễn Sinh Côn, sau đổi thành Nguyễn Tất Thành, con ông phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Thế rồi sử gia Trần Quốc Vượng đưa ra một giả thuyết mới theo đó ông thực sự họ Hồ, cháu nội ông Hồ Sĩ Tạo, và đã chỉ mang họ Nguyễn sau một thảm kịch gia đình: bà nội ông đã có thai với ông Hồ Sĩ Tạo dù ông này đã có vợ con, gia đình bà đã phải đem gả bà cho một ông đồ già họ Nguyễn, vì thế thân phụ ông đã mang tên Nguyễn Sinh Huy. Trần Quốc Vượng đưa ra những chứng cứ và biện luận khó phản bác.
Hồ Chí Minh đã sống thời niên thiếu như thế nào tại Việt Nam, đã làm gì tại Pháp và tại Nga, đã có thành tích và trách nhiệm nào trước và trong thời gian làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa? Ngay cả những tài liệu về Hồ Chí Minh do những người cộng sản kỳ cựu gần gũi với ông viết ra cũng đã mâu thuẫn.
Chính Hồ Chí Minh cũng đóng góp tích cực vào việc gây hoang mang và lẫn lộn về tiểu sử của ông. Ông dùng những bí danh T. Lan và Trần Dân Tiên để viết về mình một cách mơ hồ. Trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, ông Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh, thuật lại cảm giác bồn chồn sung sướng khi được “Hồ chủ tịch” tiếp và được ông Hồ Chí Minh trả lời như sau khi ngỏ ý muốn viết tiểu sử của ông: “Tiểu sử? Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ”. Câu chuyện này chứng tỏ Hồ Chí Minh là một người giả dối muốn đánh bóng tiểu sử của chính mình; đó là tâm lý của những người trong thâm tâm không hãnh diện về mình. Điều đáng ghi nhận là mặc dù đã bỏ ra rất nhiều thời giờ và công sức và dùng tới hai bút hiệu để viết về chính mình, một việc có lẽ chưa một nhà chính trị nào làm, nhưng cả hai hồi ký của ông Hồ Chí Minh đều không có một giá trị lịch sử hay chính trị nào cả, bởi vì chúng không đóng góp giải thích một sự kiện lịch sử nào mà chỉ là những mẩu chuyện nhắm mục đích ca tụng ông Hồ Chí Minh như một người tốt, tài giỏi, dũng cảm, có chí lớn, có quyết tâm, đáng ngưỡng mộ v.v. Hồ Chí Minh hoàn toàn không hiểu ý nghĩa và hậu quả của những biến cố lớn của một giai đoạn lịch sử trọng đại, trong đó ông là nhân vật chính; ông chỉ chú trong đến những chuyện vụn vặt về cá nhân mình. Đây là một điều đáng buồn cho cả ông Hồ Chí Minh lẫn dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã phá mọi kỷ lục Việt Nam về tiểu sử. Số sách và bài viết về ông đã gấp hàng trăm lần bất cứ nhân vật lịch sử Việt Nam nào. Tuy vậy bí ẩn về ông vẫn còn nguyên vẹn. Bài này vì vậy không phải là một đóng góp thêm về tiểu sử ông Hồ Chí Minh mà chỉ có mục đích nhận diện một trong những huyền thoại nền tảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam.
Có một số dữ kiện mà mọi người có thể đồng ý. Ông sinh vào khoảng 1890-1895 tại Nghệ An, mồ côi mẹ rất sớm, cha đậu phó bảng, làm quan đến chức tri huyện nhưng vì say rượu đánh chết người nên mất chức, bị tù, rồi lưu lạc vào Nam chết trong cô đơn và nghèo khổ. Hồ Chí Minh học hết tiểu học, đang học trường Quốc Học tại Huế thì phải bỏ học vì cha bị mất chức. Ông sống vất vưởng ở trong Nam, đặc biệt tại Sài Gòn vài năm, rồi đi làm phụ bếp trên một tàu buôn và tới Pháp năm 1911. Tại đây ông làm đơn xin vào học Trường Thuộc Địa, một trường đào tạo công chức cho chế độ thuộc địa Pháp ở Nantes, nhưng bị từ chối. Ông lên Paris sinh sống bằng nghề tô ảnh, gặp một số trí thức có tinh thần quốc gia trong đó có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và hợp tác với họ. Ông gia nhập Đệ Nhị Quốc Tế, rồi Đảng Cộng Sản Pháp, và được gửi đi Nga huấn luyện năm 1923. Cuối năm 1924 ông được cử làm thông ngôn cho phái đoàn Nga tại Trung Quốc do Borodin cầm đầu; do biến cố này mà sự nghiệp chính trị của ông trở thành gắn bó với Việt Nam. Ông trở thành đại biểu Đông Dương tại Đệ Tam Quốc Tế, đóng vai trò then chốt trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và trở thành lãnh tụ số 1 của đảng này từ khi thế chiến II bùng nổ. Ông lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tháng 8, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp và chống chính quyền Bảo Đại do Pháp yểm trợ, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève. Ông mất năm 1969, giữa lúc cuộc chiến tranh Nam Bắc đạt đến mức độ gây cấn nhất. Về đời tư ông có khá nhiều người tình và cũng đã có vợ, có con, nhưng ông giấu nhẹm những chuyện này. Một trong những người phụ nữ này là cô Nông Thị Xuân, có con với ông, đã chết trong một trường hợp bí ẩn, thân nhân quả quyết là đã bị thủ tiêu. Những sự kiện này được mọi nhà nghiên cứu nhìn nhận và cũng chưa hề bị Đảng Cộng Sản Việt Nam bác bỏ.
Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đặt nền tảng trên ba huyền thoại: chủ nghĩa cộng sản chủ trương giải phóng giai cấp vô sản và thiết lập một thế giới công bằng lý tưởng; cuộc chiến đấu oanh liệt thắng Pháp, thắng Mỹ đem lại độc lập và thống nhất đất nước; và thần tượng Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một mẫu mực về đạo đức, đồng thời cũng là một người giản dị, khắc khổ chỉ sống cho đất nước.
Mỗi huyền thoại có một công dụng riêng. Chủ nghĩa cộng sản là một cứu cánh, một biện minh sau cùng cho mọi hành động. Chiến công giành độc lập, thắng ngoại bang cho Đảng Cộng Sản Việt Nam một sự chính đáng lịch sử và, quan trọng hơn, tiêu biểu cho dụng cụ bạo lực sẵn sàng đập tan mọi chống đối. Thần tượng Hồ Chí Minh là đối tượng để ngưỡng mộ và kính phục và đem lại cho đảng sự chính đáng về mặt đạo đức. Ngày nay lý tưởng cộng sản không những đã sụp đổ mà còn bị lố bịch hóa. Nó chỉ được duy trì qua loa như vòng phòng thủ bên ngoài. Còn lại cặp bài trùng cố hữu và bắt buộc của mọi quyền lực : bạo lực và đạo đức. Bạo lực để đập tan mọi chống đối, đạo đức để đừng bị chống đối. Đảng cộng sản dùng bạo lực để áp đặt sự tôn sùng Hồ Chí Minh, ngược lại sự tôn sùng thần tượng Hồ Chí Minh, biểu tượng của đảng, có tác dụng triệt tiêu ý muốn chống đối và do đó cho phép tiết kiệm việc sử dụng bạo lực. Nếu một trong hai thành tố này không còn thì chế độ cộng sản không thể tiếp tục tồn tại.
Vậy thì Hồ Chí Minh là nhân vật như thế nào?
Một tranh cãi quen thuộc là Hồ Chí Minh có phải là một người yêu nước và nhân bản hay không? Sở dĩ câu hỏi này được đặt ra là vì Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như là chân dung của lòng yêu nước và đức hạnh, nhưng đây là một  tranh cãi phiến diện. Yêu nước là tình cảm tự nhiên của mọi người và ngay cả những kẻ phản quốc cũng yêu nước. Sự quyến luyến với phần đất mà mình sinh ra và lớn lên nằm trong phản xạ của mọi động vật, không cứ gì loài người. Vậy thì ông Hồ Chí Minh chắc chắn là có yêu nước. Cũng thế, những giá trị nhân bản có sẵn trong mọi người. Ngay cả những kẻ gian ác nhất cũng ưa chuộng sự lương thiện, sự thủy chung và lòng bao dung. Con người đã được cấu tạo như thế. Vấn đề thực sự đặt ra là trong hoàn cảnh khó khăn và trước hiểm nguy, lòng yêu nước và các giá trị đạo đức như tình bạn, tình yêu có trọng lượng nào?
Hồ Chí Minh đã thẳng tay thủ tiêu các lực lượng chính trị, dù là cộng sản đệ tứ, hay Đại Việt, hay Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông thừa biết là họ rất yêu nước, nhưng họ không thuộc đảng cộng sản của ông và do đó sự hiện hữu của họ đe dọa độc quyền lãnh đạo của ông.
Hồ Chí Minh biết bà Nguyễn Thị Năm là người vô tội, hơn thế còn là người tốt, đã giúp đỡ nhiều cho đảng cộng sản và có con trai đang là trung đoàn trưởng quân đội cộng sản. Ông quí bà Năm, nhưng khi cố vấn Trung Quốc cho biết là không thể thay đổi quyết định xử bắn bà để thị uy vì tất cả mọi nghi thức đã sắp xếp xong rồi thì ông im mồm và để cho bà Năm bị bắn. Sau này, trong các vụ Nhân Văn – Giai Phẩm và “xét lại chống đảng” ông cũng để mặc cho các cộng sự viên gần gũi bị bách hại oan ức. Ông bỏ rơi bà vợ chính thức Tăng Tuyết Minh để giữ hình ảnh một lãnh tụ thánh thiện chỉ sống cho đất nước và lấy đất nước làm gia đình. Cũng vì hình ảnh này mà ông hoặc đã ra lệnh hoặc đã chấp nhận thủ tiêu cô Nông Thị Xuân và bỏ rơi người con của ông với cô này. Có rất nhiều khả năng là chính ông đã quyết định tội ác này bởi vì ông quan tâm một cách bệnh hoạn đến hình ảnh của mình, ông đã dùng cả hai bí danh để viết sách tự đánh bóng mình. Một người không mắc bệnh tâm thần không thể làm như thế. Tóm lại, khi đứng trước khó khăn thì lòng yêu nước, những giá trị đạo đức, cũng như danh dự và an ninh của những người thân thiết với ông không có một trọng lượng nào đối với Hồ Chí Minh cả, ông có thể nhẫn tâm một cách đáng sợ.
Ông Hồ Chí Minh thiếu hẳn những kiến thức cần thiết mà mọi người lãnh đạo quốc gia, ngay cả trong thời đại của ông, phải có. Ông hoàn toàn không biết gì về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chính, luật pháp, và ngay cả về nông nghiệp. Trong cuốn sách “Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học” mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực (nhà xuất bản Sự Thật, 1958, tr. 41), ông tin và kêu gọi mọi người tin là một mẫu lúa tại Trung Quốc có thể đạt được 333 tấn lúa mỗi năm. Những phát biểu của ông, dù là bài viết hay bài nói, không chứng tỏ một sự hiểu biết nào, dù sơ sài đến đâu, về lịch sử thế giới và tư tưởng chính trị. Việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như một nhà tư tưởng là cả một xúc phạm đối với trí tuệ.
Không phải là Hồ Chí Minh không có tài, nhưng cái tài của ông ở chỗ khác. Ông lặn lộn và từng trải, học được nhiều bài học thực dụng. Ông sống một thời niên thiếu bi đát, một tuổi thanh niên chật vật, được hoàn cảnh đưa đẩy đến những hoạt động phiêu lưu nguy hiểm, được huấn luyện để làm gián điệp tại Nga và đã hoạt động tình báo thực sự với cả Nga, Trung Quốc lẫn Mỹ và Pháp trong bối cảnh chiến tranh và khủng bố. Có thể nói ông là người Việt Nam đầu tiên trong thế kỷ 20 có huấn luyện và kinh nghiệm trong các tổ chức quốc tế.  Cuộc sống đó đã tạo cho ông một bản năng sống còn đặc biệt bén nhậy và đã khiến ông hạ được các đối thủ, trong cũng như ngoài đảng cộng sản, nhưng mặt khác cũng đã khiến ông đặt an ninh, địa vị và danh tiếng cá nhân lên trên hết, và ông trở thành nguy hiểm cho mọi người vô tình hay cố ý trở thành một đe dọa thực sự hay tưởng tượng đối với ông.
Quãng đời đấu tranh chống chế độ thuộc địa của ông ngay trên đất Pháp trong thời gian 1915-1923, thường được Đảng Cộng Sản Việt Nam nhắc tới như một thiên anh hùng ca. Hai sự kiện nói lên con người Hồ Chí Minh. Ông rất ít nhắc tới những đồng chí của ông trong giai đoạn này, như các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Truờng, Nguyễn Thế Truyền đã hướng dẫn ông, nhất là Nguyễn Thế Truyền, người bạn thân đã đem ông vào Đảng Cộng Sản Pháp. Ông giành mọi thành tích của nhóm này cho riêng mình. Một sự kiện khác là ông đã tham gia hội Tam Điểm. Đây là một hội kín mà theo một số tài liệu đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 10 và có thế lực lớn tại các nước phương Tây, kể cả tại Pháp. Hội này có đặc tính nổi bật là các hội viên che chở cho nhau, mặt khác nó cũng chống chính sách thực dân.  Tam Điểm có vô số nhân vật đầy quyền lực cho nên khi ra mặt đả kích chế độ thực dân tại Pháp Hồ Chí Minh đã được bảo vệ. Nhưng Tam Điểm mâu thuẫn với Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản nên từ 1920 các đảng viên cộng sản bị cấm gia nhập hội này. Hồ Chí Minh đã chọn Đệ Tam Quốc Tế vì phong trào này cho ông một triển vọng thăng tiến lớn. Ông lặng lẽ bỏ hội Tam Điểm như một thành viên bị mất tích và cũng không khai báo gì với Đệ Tam Quốc Tế. Hồ Chí Minh đi hai hàng, Tam Điểm không biết ông là cộng sản, ngược lại Đệ Tam Quốc Tế cũng không biết ông là hội viên Tam Điểm. Sau Cách Mạng Tháng 8, những người hoạt động chính trị tại Việt Nam và thuộc hội Tam Điểm, do đó có khả năng biết Hồ Chí Minh cũng thuộc hội này, như Tạ Thu Thâu, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, v.v. đều bị thủ tiêu nhanh chóng. Ngoài ra còn có một đợt tàn sát khó hiểu đối với chức sắc Cao Đài, một biến thể của hội Tam Điểm tại Việt Nam, mà Nguyễn Hộ có kể lại trong hồi ký của ông. Sự tàn sát này phải chăng có mục đích khiến không ai ngờ rằng Hồ Chí Minh có một liên hệ nào với Tam Điểm? Điều chắc chắn là cho tới khi ông qua đời không ai biết Hồ Chí Minh đã thuộc hội này. Sự thực mới chỉ được phơi bày gần đây.
Cái gì đã khiến Hồ Chí Minh thành công? Có lẽ lý do chính là ông đã được huấn luyện tại Nga trong bối cảnh khủng bố của các thập niên 1920 và 1930 nên đã hiểu được bí quyết thành công của Đảng Cộng Sản Nga và hiệu lực của khủng bố. Đừng nên quên rằng cuộc cách mạng lật đổ Nga hoàng đã xảy ra vào tháng 2/1917, trong đó đảng cộng sản chỉ có một vai trò không đáng kể. Cách Mạng Tháng 10 Nga chỉ là cuộc đảo chính của đảng cộng sản sau khi đã nắm được thế thượng phong nhờ khủng bố. Hồ Chí Minh đã được huấn luyện về khủng bố và đã áp dụng khủng bố một cách thẳng tay. Cách Mạng Tháng 8 đã khởi đầu với sự thủ tiêu hàng loạt các “phần tử phản động”. Cuộc chiến tranh 1946-1954 đã là một giai đoạn khủng bố kinh hoàng. Đặc tính lãnh tụ khủng bố của Hồ Chí Minh cho đến nay chưa được nhấn mạnh đúng mức. Hồ Chí Minh sử dụng khủng bố ngay cả khi không cần thiết như trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm và nhất là trong đợt Cải Cách Ruộng Đất năm 1955, trong đó hàng trăm ngàn người đã bị sát hại. Không thể đổ lỗi cho Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và Hồ Viết Thắng vì lúc đó Hồ Chí Minh còn nắm mọi quyền hành. Cũng nên nhớ là mãi tới năm 1958, ba năm sau khi Cải Cách Ruộng Đất đã được nhìn nhận là một sai lầm đẫm máu, Hồ Chí Minh vẫn còn cho xuất bản cuốn sách mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực ca tụng cải cách ruộng đất tại Trung Quốc, khuôn mẫu của đợt cải cách ruộng đất tại Việt Nam.
Hồ Chí Minh chắc chắn là có tài, nhưng là cái tài của một chuyên viên sách động, khủng bố, lật đổ và cướp chính quyền, chứ không phải là cái tài của một người lãnh đạo quốc gia.
Còn về con người Hồ Chí Minh? Có thể tóm tắt ông đã là một đứa trẻ không may, không được nuôi nấng và dạy dỗ trong tình yêu và hạnh phúc, mất mẹ sớm lại phải chịu đựng một ông bố nghiện ngập và hung dữ. Gia đình ông đã là một thảm kịch và ông đã phải bỏ học và lăn lộn với đời rất sớm. Mỗi thảm kịch trong tuổi thơ đều để lại một thương tích trong con người và Hồ Chí Minh cũng không phải là một ngoại lệ. Ông đã bị chấn thương về tâm thần. Có lẽ chính thảm kịch gia đình, mà theo Trần Quốc Vượng đã bắt đầu ngay từ bà nội ông nhưng chắc chắn là đã trầm trọng từ đời thân phụ ông, đã khiến Hồ Chí Minh không có tình cảm gia đình. Tất cả những tài liệu do những người gần gũi với ông viết ra đều không bao giờ thuật lại một lần nào Hồ Chí Minh nhắc đến cha mẹ, anh em, ngày giỗ v.v. Đặc biệt là ông không coi trọng phụ nữ, dù là bà Tăng Tuyết Minh hay cô Nông Thị Xuân hay những người đàn bà khác. Trong cuộc đời Hồ Chí Minh không có những người đàn bà sung sướng và được quí trọng. Chị ông, mẹ ông và có lẽ cả bà nội ông, đã chỉ là những người sinh ra để làm nạn nhân. Thảm kịch cá nhân của Hồ Chí Minh đã biến ông thành một người mưu lược, khéo léo, nhưng vô nguyên tắc và không bị trói buộc bởi một giá trị nào.
Hồ Chí Minh có công hay có tội? Đó là một vấn đề sẽ còn tranh cãi rất nhiều và rất lâu. Nhưng nếu ta đặt câu hỏi một cách khác: “Nếu không có Hồ Chí Minh và đảng cộng sản thì Việt Nam sẽ khá hơn hay sẽ kém hơn hiện nay?” thì chắc chắn tuyệt đại đa số người Việt sẽ có cùng một câu trả lời. Nói chung Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là những sự kiện đáng tiếc. Trong cuốn “Thời Dựng Đảng” do Đảng Cộng Sản Việt Nam xuất bản, ông Thép Mới viết : “Các thế hệ Việt Nam sau này sẽ nhớ đến Hồ chủ tịch như là người đã có công đem chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam”. Nhận định này đúng, và giải thích lý do tại sao Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cố gượng gạo duy trì trên đầu môi chủ nghĩa Mác – Lênin. Vấn đề là  việc đem chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam có lợi gì?
Nhưng dù Hồ Chí Minh có thế nào đi nữa, dù ông có công hay có tội, thì ông cũng vẫn là một con người và vẫn phải được hưởng quyền tối thiểu của một người chết, nghĩa là được yên nghỉ. Việc đem xác một người đã chết trưng bày ở giữa một công trường, dù là trong một lăng đồ sộ và trong một lồng kiếng, là một hành động dã man theo văn hóa Việt Nam. Không một người Việt Nam nào có thể bị đối xử như thế. Hồ Chí Minh đã bị sử dụng như một dụng cụ tuyên truyền. Đã đến lúc ông có quyền được an táng một cách văn minh.

Nguyễn Gia Kiểng
(Tháng 5/1994)

TAM QUYỀN PHÂN LẬP LÀ GÌ?

NGUỒN GỐC
Lý thuyết phân quyền trong việc điều hành guồng máy một quốc gia bắt nguồn từ 2 lý thuyết gia lừng danh, John Locke (Anh, 1632 – 1704) và Montesquieu (Pháp, 1689 – 1755).
Trong “Luận về Chính quyền dân sự” (Two Treatises of Government – 1689), Loke chủ trương chia 3 quyền phân biệt sau:
Lập Pháp
Hành Pháp
Ngoại Giao
Trong “Vạn Pháp Tinh Lý” (De l’esprit des lois / The Spirit of the Laws, 1748), Montesquieu sửa đổi và bổ sung lý thuyết của Loke trở thành 3 quyền sau:
Lập Pháp: soạn thảo hiến pháp, luật pháp cho quốc gia, và biểu quyết các đạo luật từ Hành pháp.
Hành Pháp: điều hành đất nước dựa trên việc thực thi luật pháp và tuân thủ hiến pháp
Tư Pháp: dựa trên luật pháp quốc gia, tổ chức xét xử tất cả những hành vi phạm pháp của công dân và của các cơ quan công quyền kể cả cá nhân trong các cơ quan đó…
Theo lý thuyết này của Montesquieu thì Hành pháp đảm nhiệm cả việc đối ngoại cho quốc gia.
Gần 300 năm qua, ý tưởng và lối thiết kế phân quyền của Montesquieu vẫn còn nhiều ảnh hưởng cho dù theo đà tiến triển của văn minh nhân loại, người ta đã có nhiều phát kiến bổ khuyết cho phù hợp với từng quốc gia địa phương, nhưng tựu trung lại vẫn càng làm vững thêm cho lý thuyết phân quyền, một điểm son của văn minh nhân loại đang hiển hiện qua hình dạng các thể chế chính trị tự do dân chủ trên thế giới.

ĐẶC ĐIỂM
Vì sao J. Loke và Montesquieu phải chủ trương phân quyền? Điều gì đã khiến các vị lý thuyết gia tiên phong của nhân loại nghĩ ra lý thuyết ấy?
Ta hãy nghe Montesquieu: “…Khi lập pháp bị sát nhập vào hành pháp nghĩa là quyền sinh ra luật và thi hành luật nằm trong tay 1 nhóm người thì đất nước không có tự do được! Thật đơn giản để vừa làm ra luật vừa áp dụng luật một cách độc đoán… Nếu mà cả tư pháp lại bị nhóm quyền hành này thâu tóm nữa thì chế độ cai trị sẽ có sức mạnh của kẻ áp bức…” (“Vạn Pháp Tinh Lý”)
Như vậy, nguyên tắc phân quyền ra đời cốt để ngăn chặn độc tài hoặc dân chủ giả hiệu. Nó phân chia hài hòa các bình diện trách vụ của quốc gia làm 3 nơi.
Phân nhiệm: mỗi cơ quan đại diện cho công quyền quốc gia thực thi một nhiệm vụ riêng, có quyền hạn trong phạm vi nhiệm vụ đó mà thôi.
Độc lập: sự phân nhiệm như thế đã ấn định thẩm quyền của mỗi cơ quan, do đó, các cơ quan hoàn toàn độc lập với nhau từ quyền hạn đến trách vụ, cho nên sẽ không thể có sự dẫm đạp nhau hoặc thông đồng, ảnh hưởng đến nhau hay phối hợp nhau mà nhũng lạm quyền hành. Tỉ dụ, quốc hội (lập pháp) không có quyền xen vào việc của chính phủ (hành pháp) cũng như chính phủ không thể khiến quốc hội biểu quyết các dự thảo luật, đạo luật v.v…
Tầm quan trọng của quyền Lập Hiến và Hiến pháp
Chú ý rằng, quyền Lập Hiến là tối thượng, nguyên thuỷ và bất khả phân của quốc gia. Quyền Lập Hiến chính là Chủ quyền của đất nước.
Hiến Pháp là những nguyên tắc và là tuyên ngôn tối thượng, là kim chỉ nam cho sinh hoạt chính trị của quốc gia, và đồng thời là khế ước bắt buộc đối với bộ máy cầm quyền phải thực thi nhân quyền và dân quyền, nghĩa là họ được dân bầu lên (trong 1 nhiệm kỳ hạn định) để phục vụ ý dân thông qua các chức danh đại diện quyền lực chính quyền của dất nước.
Vì thế, các cá nhân hay nhóm thiểu số nắm quyền lực thì sẽ phải mãn nhiệm nhưng Hiến Pháp thì không. Hiến Pháp thì trường cửu và chỉ có thể được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế đời sống bởi những quy trình tu chính công minh và nghiêm ngặt.
Đối với những cơ quan công quyền trong một quốc gia, tội vi hiến là trọng tội và hậu quả là bị bãi nhiệm hoặc truy tố.
Vì Hiến Pháp quan trọng như thế nên bất cứ chế độ cai trị nào thao túng quy trình tạo lập Hiến Pháp, tùy nghi sinh ra, tùy ý sửa đổi… thì chế độ đó là một thứ guồng máy độc tài, áp bức và man trá.
Và một chế độ thực sự công bằng, tự do dân chủ phải lấy ý tưởng phân quyền làm nền tảng trong việc soạn thảo Hiến pháp.
Nguyên tắc phân quyền chỉ có giá trị theo sau, khi một Hiến Pháp thực sự của dân, do dân và vì dân được xác lập bởi một Quốc Hội Lập Hiến. Quốc Hội Lập Hiến do dân bầu trong một cuộc phổ thông đầu phiếu hợp lệ, công bằng và khách quan, trong sạch.
Sau khi soạn thảo xong Hiến Pháp, Quốc Hội Lập Hiến giải tán và nhường bước lại cho các diễn tiến thực thi tam quyền phân lập đã được hiến định, đó là tiến hành các cuộc bầu cử trọng yếu bầu ra bộ máy Hành Pháp và Lập Pháp. Riêng Tư Pháp, có nơi do dân bầu trực tiếp, có nơi do Hành Pháp chỉ định (bổ nhiệm) và được Lập Pháp chuẩn thuận.

CƠ CẤU TỔ CHỨC CÁC CƠ QUAN CÔNG QUYỀN


CƠ QUAN LẬP PHÁP: QUỐC HỘI

Định Nghĩa:
Ngoại trừ Quốc Hội Lập Hiến với nhiệm vụ và trọng trách hạn định như đã trình bày ở trên, đã giải tán sau khi soạn thảo xong Hiến Pháp, thì Quốc Hội Lập Pháp (hay còn gọi là Nghị Viện) là cơ quan công quyền thường trực, gồm các dân biểu (đại biểu của dân, do dân bầu) và cũng sẽ được tái bầu theo hạn trình hiến định.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc Hội là soạn thảo Luật lệ cho quốc gia, biểu quyết các đạo luật từ hành pháp và kiểm soát bộ máy hành pháp trong việc thực thi chính sách quốc gia.
Phân Loại:
1- Chế độ nhất viện: Theo chế độ này thì Quốc Hội chỉ có 1 viện duy nhất (ví dụ Quốc Hội VNCH từ 1956 – 1963).
Nhất viện quốc hội có những lợi ích như việc lập pháp nhanh chóng và tập trung, các dân biểu sinh hoạt trong 1 viện duy nhất nên dễ làm việc, đoàn kết và thống nhất ý chí, chưa kể việc ngân sách quốc gia cũng được giảm nhẹ.
Chế độ nhất viện được áp dụng duy chỉ tại VNCH thời đệ nhất cộng hòa do bởi tình hình đặc biệt lúc đó: nền cộng hỏa non trẻ của Việt Nam lần đầu tiên được thành lập, trong bối cảnh miền bắc cộng sản đang chuẩn bị một cuộc xâm lăng quy mô và lâu dài với viện trợ hùng hậu của đế quốc cộng sản Nga sô và Trung cộng hòng thôn tính miền Nam tự do cho tham vọng nhuộm đỏ thế giới.
2- Chế độ lưỡng viện: Theo chế độ này thì Quốc Hội có 2 viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện.
Các dân biểu Hạ viện được bầu từ các tỉnh, địa phương. Các nghị sĩ Thượng viện được bầu trên quy mô toàn quốc. Do đó chế độ lưỡng viện đại diện đầy đủ các tấng lớp nhân dân. Các quốc gia liên bang (hoặc không) thường áp dụng chế độ lưỡng viện quốc hội như Hoa Kỳ, Đức, Thụy Sĩ (hay Anh, Pháp, VNCH -đệ nhị cộng hòa 1967).
Chế độ lưỡng viện thận trọng và chắc chắn hơn trong việc lập pháp. Nếu Hạ viện sôi nổi hơn với đòi hỏi đặc thù của tầng lớp quần chúng địa phương thì Thượng viện chín chắn hơn trong việc điều hòa nhu cầu địa phương và tiếng nói chung của quốc gia.
Thượng viện còn là nơi có thẩm quyền khả dĩ làm vai trò theo dõi và kiểm soát mọi hoạt động của chính phủ (hành pháp). Vì thế nền chính trị quốc gia dễ thăng bằng và khó rơi vào chỗ cực đoan hay nhũng lạm quyền hành hay nguy cơ phát sinh mầm mống độc tài.
Quy chế:
Để bảo đảm tính độc lập và quyền uy trong vai trò đại diện ý dân, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng một số đặc quyền cũng như bị một vài hạn chế.
Đặc quyền:
- Tự do phát biểu ý kiến: Dân biểu và Nghị sĩ hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến tại nghị trường Quốc hội. Không ai có thể khiến Dân biểu hay Nghị sĩ biểu quyết hay không về một chủ đề bàn thảo hay thông qua một đạo luật chẳng hạn. (Ví dụ: Điều 37 Hiến Pháp VNCH (1967): “Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử dân biểu hay nghị sĩ vì những phát biểu và biểu quyết của họ tại quốc hội”
- Bất khả xâm phạm: Nhằm ngăn ngừa bị uy hiếp và bảo vệ vai trò của người đại diên cho dân chúng, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng quyền Bất khả xâm phạm (quyền này không áp dụng cho trường hợp các tội vi cảnh, hay liên quan đến kỷ luật nội bộ Nghị viện, hay quả tang phạm pháp). Ví dụ: Điều 37-2 Hiến Pháp VNCH (1967): “Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã bắt giam hay xét xử dân biểu hay nghị sĩ nếu không có sự chấp thuận của 3/4 tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ”
- Hoãn dịch: Trong thời gian pháp nhiệm, Dân biểu và Nghị sĩ không phải thi hành quân dịch (Military Service). Quyền này nhằm tôn vai trò quan trọng và ưu tiên của những vị dân biểu trong việc thực thi ý dân giao phó.
- Phụ cấp cao: Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng phụ cấp cao bằng ngân sách quốc gia nhằm giúp các vị yên tâm về sinh kế để tập trung cho trọng trách đang mang, hơn nữa, để dễ dàng chối từ các cạm bẫy lợi dụng của các thế lực khác muốn chi phối vai trò đặc quyền của Nghị viên.
Hạn chế:
- Bất khả kiêm nhiệm: Dân biểu và Nghị sĩ không được kiêm nhiệm bất kỳ công vụ nào khác được trả lương, hay kiêm thêm 1 nhiệm vụ dân cử khác, hoặc kiêm nhiệm một vai trò, chức vụ doanh vụ tư nhân.
Tuy nhiên, các Nghị viên có thể tham gia phụ trách giảng huấn nếu có năng lực, tại các trường Đại Học hoặc Cao Đẳng.
- Bảo mật tài liệu: các Nghị viên có trọng trách gìn giữ bí mật về các tài liệu quốc gia được bàn thảo tại nghị trường quốc hội.
- Không được dự thầu: các Nghị viên (và người hôn phối) Không được tham gia các vụ đấu thầu hay ký các giao kèo doanh vụ với các cơ quan công quyền khác.

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

NGUỒN GỐC TỪ Y TÁ LÊN THỦ TƯỚNG

Nguồn gốc từ y tá lên thủ tướng

Lâu nay bạn đọc thường vẫn hỏi nhau một trong những câu hỏi, mà cho đến gần đây chưa có câu trả lời thỏa đáng, có chăng thì cũng chỉ là những lời đồn thổi khó thuyết phục vì xét ra cũng là thiếu lôgich: Tại sao Nguyễn tấn Dũng, với nhân thân (công khai) có thế nói rằng không có gì nổi bật, nếu như không muốn nói là quá tầm thường, mà lại leo cao, trèo sâu nhanh đến như vậy?.
Hôm nay, Thăng Long tôi xin cùng phân tích với quí vị để trả lời cho câu hỏi nêu trên (mọi người chớ có cho rằng tôi là... thầy bói đấy nhé). Chúng ta cùng ngược lại thời gian cách nay hơn 20 năm, lúc đó không hiểu từ đâu bỗng thấy xuất hiện một tài liệu nặc danh (chỉ đề là: một lão thành cách mạng, biết không còn sống được bao lâu, nên chỉ muốn các đồng chí biết một sự thật mà tôi và một số đồng chí khác đã trực tiếp chứng kiến) câu chuyện như sau: 
Năm 1948 một nữ cán bộ khu chín ra khu bốn cũ (vùng Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh) công tác, có gặp và rồi có tình cảm với đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Sau đó thì nữ đồng chí này có thai, được khoảng trên ba tháng gì đó thì phải nhận nhiệm vụ quay về miền nam tiếp tục công tác rồi sau đó sinh ra một cháu trai. Theo lời dặn của anh Thanh, đặt tên cháu là Nguyễn Tấn Dũng... 
Ảnh - Nguyễn Chí Thanh
Tài liệu vừa trích dẫn, chưa biết đúng-sai thế nào nhưng nó cũng làm dư luận xôn xao một thời gian dài và quả thật, gần như ngay lập tức trên chính trường bỗng xuất hiện một nhân vật lạ hoắc mang tên Nguyễn Tấn Dũng (mà lần lượt "kinh qua" nhiều chức vụ "chuyên trị" làm cấp phó và cấp trưởng nhỏ ở nhiều cơ quan khác nhau... rồi bây giờ đang là thủ tướng nhiệm kỳ hai). 
Xâu chuỗi các sự kiện, người ta đặt ra câu hỏi: ông Nguyễn Chí Thanh đã chết từ rất lâu rồi, lại không thể đủ uy tín và tầm cỡ như ông Hồ (ám chỉ trường hợp Nông Đức Mạnh). Hơn nữa vào thời điểm đó dù Nguyễn Chí Vịnh có ra tay giúp người anh cùng cha khác mẹ (tạm cho là như vậy) thì cũng khó thuyết phục, bởi vì lúc đó Vịnh cũng "chưa là cái gì" cả dù y có là trùm tổng cục 2, vì bên trên toàn là loại"cây đa cây đề", cũng không dễ để y tự tung tự tác như thời gian sau này... 
Vậy thì do đâu mà Dũng lại được cả "tứ trụ triều đình" thời bấy giờ nhất lòng nâng đỡ và ủng hộ đến mức bất thường đến thế? Câu hỏi là quá khó để trả lời thì lại thấy xuất hiện một lời đồn mới là "Nguyễn Tấn Dũng chính là hậu duệ của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tức là thuộc dòng dõi ông Hồ. Lời đồn thổi này quả thực cũng có lý (thiên hạ đem ra để so sánh với trường hợp lên nhanh của Nông Đức Mạnh). Xét về mọi mặt, lời đồn này có thể còn "si nhê" hơn là cho rằng y thuộc dòng dõi Nguyễn Chí Thanh... Nhưng, khi chúng ta bình tĩnh lại mà suy xét thì lại cay đắng nhận ra rằng: Tất cả chỉ là một trong những "quả lừa" mà đảng cộng sản và những kẻ nhân danh nó cho Dân chúng "ăn" liên tục mà thôi!!! 
Bây giờ, chúng ta xét trường hợp cụ Phó bảng trước: Nếu Nguyễn Tấn Dũng là hậu duệ, xét về tuổi tác thì phải là hàng cháu chắt mà cha, con ông Hồ lại đã chết từ rất lâu rồi. Hơn nữa bản thân ông Hồ cũng lại chết trước khi thống nhất đất nước những sáu năm thì làm sao biết được Nguyễn Tấn Dũng là ai để mà "dặn dò" hậu thế nâng đỡ? (trong khi Nông Đức Mạnh thì họ đã biết từ lâu rồi...). Giả sử có người "biết chuyện" báo cáo với trung ương thì liệu có ai tin? Cụ phó bảng trước khi chết cũng không thể biết trước được sau này mình lại có hậu duệ tên là Tấn Dũng để mà viết di chúc hay làm sẵn gia phả? Quả là điều không tưởng nếu như không muốn nói là quá vớ vẩn. Do đó ta hãy loại bỏ trường hợp này, vì nó quá phi lý! 
Vậy còn trường hợp Nguyễn Chí Thanh có phải là cha Nguyễn Tấn Dũng? Ta xét quá trình công tác của ông Thanh thì thấy rằng: Ông Nguyễn Chí Thanh mãi đến sau chiến dịch biên giới 1950 mới vào công tác tại khu bốn cũ (tức là vùng Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay). Trong khi đó thì ai cũng biết là Nguyễn Tấn Dũng sinh năm 1949, thế thì mẹ y có bầu với ai đó chứ làm sao mà đỗ thừa cho ông Thanh được? Sự vô lý còn ở chỗ, ai cũng biết là "Bộ tham mưu" của Việt minh nằm hết ở chiến khu Việt Bắc, chứ đâu có ở khu bốn cũ mà người nữ cán bộ từ mãi tận trong Nam ra đó thì công tác cái nỗi gì? Không lẽ ra chỉ để "gặp" người chưa quen biết rồi đẻ ra Nguyễn tấn Dũng?... Hơn nữa, thời đó thì làm gì đã có nhiều ô tô để cấp riêng cho bà cán bộ đó, dù là có bầu với (ông Thanh); do đó, bà phải đi bộ như những người khác, mà từng ấy cây số, lại đã có bầu trên ba tháng mà phải đi bộ đầy hiểm nguy gian khổ như thế mà bà không đẻ non dọc đường thì mới là chuyện lạ, không lẽ cố mà lết về đến tận Kiên Giang mới chịu cho Nguyễn tấn Dũng chui ra? 
Xét về hình thể, rõ ràng ta thấy rằng ông Nguyễn Chí Thanh là người nhỏ thó. Khuôn mặt và dáng người Nguyễn Chí Vịnh là khá giống cha còn Nguyễn Tấn Dũng lại khác hoàn toàn từ dáng người cho đến khuôn mặt... Từ tất cả những dẫn chứng nêu trên, ta có thể nói rằng Nguyễn Chí Thanh không hề có thằng con nào như thế và việc gán cho ông suy cho cùng cũng chỉ là cái trò "gắp lửa bỏ tay người" để đánh lừa dư luận mà thôi!. 
Vậy thì Nguyễn Tấn Dũng là con ai mà lại lên nhanh đến thế? Kẻ đó chính là "Thái thượng hoàng" Lê Đức Anh. Những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước tuy chỉ làm chủ tịch nước nhưng lại được đàn anh là Lê Đức Thọ bảo kê và "dìu dắt" (lúc này Lê Đức Thọ như Thái thượng hoàng) chính y đã ép thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định nâng cấp cục 2 thành tổng cục 2 trực thuộc bộ chính trị, cho theo dõi toàn bộ ban chấp hành trung ương để giúp y nắm gáy mọi người nhằm dễ bề khuynh loát chính trường và thời gian này con đường hoạn lộ của gã con hoang của y cũng thực sự bắt đầu. 
Trước tiên, ta hãy xét quá trình hoạt động của Lê Đức Anh. Không tính thời gian y làm cai đồn điền cho mật thám Pháp thì suốt trong những năm theo Việt Minh chống Pháp cũng như sau này, trước năm 1975 thì chưa bao giờ y ra khỏi vùng gọi là Quân khu 9 (tức là mấy tỉnh cực nam của tổ quốc). Trong đó, dĩ nhiên bao gồm cả vùng đất đã sinh ra và nuôi dưỡng Nguyễn Tấn Dũng! 
Xét về hình tướng thì cha con y rõ ràng có những nét vô cùng tương đồng: cùng cao lớn, khuôn mặt và các chi tiết như mũi, gò má, cằm, trán v.v... Chúng ta đem so sánh hình ảnh chụp công khai của cha, con y thì sẽ tự đối chiếu ra thôi, có khó gì? 
Cho nên đã có nhiều bạn thấy thằng Nguyễn Thanh Nghị rất giống Lê Đức Anh thì cũng không có gì là lạ, vì xưa nay cháu có nét giống ông nội là chuyện thường tình. 
Nói về một điều khá lạ nữa cũng liên quan đến cha, con y là mỗi khi xảy ra một sự việc nào đó, hễ mà thái thượng hoàng cha lên tiếng công khai thì y như rằng được thằng con "chấp hành" ngay còn người khác có là cỡ nào nói thì cũng chẳng "xi nhê" gì (ta lấy ví dụ gần nhất là vụ Tiên Lãng thì thấy rõ liền...). 
Tội ác của cha, con y đối với Dân tộc như đã và đang xảy ra thì rất nhiều người đã biết, nhưng vụ bị mang tiếng với quốc tế vì xâm chiếm Campuchia dẫn đến bị cấm vận trong hơn 10 năm thì có lẽ ít người biết một cách tường tận: "Nếu đánh trả Khơ me đỏ theo cách của Tướng Giáp thì ngày nay làm gì còn Khơ me đỏ để tòa án quốc tế mất thời giờ xét xử!..." Tại sao BBC lại bình luận như vậy? Họ ngồi trong phòng có điều hòa rồi võ đoán chăng? Xin thưa là không, mà là họ nói rất đúng! 
Ảnh - Lê Đức Anh
Trước tiên, chúng ta phải khẳng định rằng việc đánh trả Khơ me đỏ xâm lược và giết hại dã man đồng bào ta là đúng! Vấn đề là ở cách đánh như thế nào.? Chúng ta đều đã biết là sau năm 1975 Quân đội VNCH đã để lại gần như nguyên vẹn mọi khí tài thuộc tất cả các quân binh chủng Hải-Lục-Không quân... Ta dùng trực thăng vận đổ quân bao vây toàn bộ biên giới Thái Lan-Campuchia, phía biển dùng tàu chiến các loại & tàu đổ bộ bao vây toàn bộ các hải cảng (ví dụ cảng sihanucvin...) Dùng bộ binh, tăng, thiết giáp, pháo binh tấn công dọc biên giới VN-Campuchia và Lào - Campuchia vậy thử hỏi Khơ me đỏ nếu không đầu hàng thì chạy đi đâu? Đó chính là cách đánh của Tướng Võ Nguyên Giáp mà BBC đã bình luận ở trên! Vậy mà tiếc thay, tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ - Văn Tiến Dũng không những không nghe mà lại cử Lê Đức Anh (kẻ cơ hội chỉ quen đánh trộm kiểu du kích) làm tư lệnh chiến trường... 
Kết quả là không những không thể giải quyết đánh nhanh thắng nhanh (là binh pháp sơ đẳng khi phải chiến đấu trên đất nước đối phương) mà phải kéo dài sự chiếm đóng bất đắc dĩ kéo theo cái chết "bất đắc kỳ tử" của hàng chục ngàn binh sĩ đêm đêm làm mồi cho du kích Khơ me đỏ. Đã thế lại còn đẩy Dân tộc lâm vào cảnh đói nghèo vì kiệt quệ do chiến tranh quá kéo dài, danh dự-uy tín của Quốc Gia trở về con số không to tướng... Ấy vậy mà sau vụ Xiêm Riệp (Lê Đức Anh chỉ đạo giết hại rất nhiều đảng viên Khơ me vô tội...) Lê Đức Anh về nước lên làm bộ trưởng quốc phòng thay Văn Tiến Dũng, rồi từ đó lên chủ tịch nước như chúng ta đã biết. Thời gian này y cùng "bộ tứ" khom lưng cúi đầu dâng đất, dâng biển qua hiệp định Thành Đô ô nhục để giữ chế độ độc tài đảng trị... Tội ác này của tập đoàn cộng sản VN rồi đây sẽ có ngày Nhân Dân sẽ phán xét phân minh!... 

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

KHÔNG NÊN BẬN TÂM NHIỀU VỚI CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ

Tôi nhận được bài viết của ông Nguyễn Thanh Giang về việc ông Lữ Phương bảo vệ chủ nghĩa Mác do một bạn trẻ gửi đến. Sau khi xem lại bài viết trên ở trang Dân Luận, tôi có đôi điều nói lại với bạn trẻ nói trên và một số bạn khác quan tâm.
Câu trả lời ngắn gọn nhất của tôi là: Các bạn không nên bận tâm nhiều với chủ nghĩa Mác làm gì cho mất thì giờ. Bây giờ thì giờ là vàng bạc. Ai đó thích bảo vệ chủ nghĩa Mác thì…kệ họ. Các bạn nên để thì giờ vào những việc khác hữu ích hơn. Chủ nghĩa Mác cùng với hệ quả trực tiếp của nó là chủ nghĩa Mác – Lênin đã bị nhân dân các nước Đông Âu ném vào sọt rác của lịch sử. Cái gì đã bị ném đi thì không thể trở lại được nữa đâu, ai đó muốn tô vẽ cho một lý luận vứt đi thì chỉ mất uy tín.
Có bạn phân vân: Nếu chủ nghĩa Mác là sai lầm thì tại sao lại sống dai bao nhiêu năm như vậy? Câu trả lời cũng dễ: Chủ nghĩa ấy tồn tại nhờ khẩu súng. Bạn thử nghĩ xem, nếu năm 1917 cách mạng tháng Mười không thành công, chính quyền Xô – viết không dùng súng để bảo vệ thì liệu chủ nghĩa Mác có được vị trí nào trong lịch sử tư tưởng nhân loại? Thì cũng như nhiều trào lưu tư tưởng khác ở châu Âu, chỉ một số nhà nghiên cứu làm luận văn gì đó đến thư viện tra cứu, bàn luận trên giấy, in thành sách để…cất đi, hoặc hơn nữa là tặng bạn bè. Chỉ thế thôi. Có bạn đọc thấy nhiều “nhà khoa học đáng kính” bảo vệ chủ nghĩa Mác nên còn do dự. Đó là quyền tự do tư tưởng của mỗi người, chúng ta không bàn.
Trước hết chúng ta cần xác định: chủ nghĩa Mác có phải là chủ nghĩa Lênin không? Như ông Lữ Phương thì coi chủ nghĩa Lênin không phải là chủ nghĩa Mác. Để làm rõ điều này cần xem xét những tiền đề cơ bản của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin có trùng nhau không? Theo chương trình chính thức trong trường đại học mà các bạn đang học, chủ nghĩa Mác-Lênin gồm 3 bộ phận cấu thành: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế Chính trị Mác – Lênin, Chủ nghĩa Xã hội Khoa học.
Hãy nói đến triết học Mác. Các trào lưu triết học được chia làm 2 nhóm lớn: duy tâm và duy vật. Theo các giáo trình chính thống, vấn đề cơ bản của triết học là xét xem ý thức và vật chất, cái nào có trước? Nếu coi ý thức là cái có trước thì thuộc duy tâm, còn nếu coi vật chất là cái có trước thì thuộc duy vật. Triết học Mác thừa nhận vật chất là cái có trước, vật chất quyết định ý thức, do đó là triết học duy vật. Ông Stalin nói: Mác hay trích dẫn Hêghen, nhưng triết học Mác ngược lại với Hêghen. Mác kế thừa toàn bộ triết học Hêghen nhưng lại đảo ngược vai trò giữa ý thức và vật chất. Hêghen coi ý thức là cái có trước (do đó triết học Hêghen là duy tâm), còn Mác coi vật chất là cái có trước. Ở đây chúng ta thấy Mác không có gì “mới” so với Hêghen, các phạm trù, quy luật của triết học Hêghen được Mác kế thừa toàn bộ, có chăng chỉ là đảo lại vai trò ý thức và vật chất. Nếu các bạn vận dụng triết học Mác để xem xét vấn đề thì cứ yên tâm đi, bạn chưa phải là nhà mác-xít đâu, thực chất vẫn là Hêghen đấy. Lênin đã kế thừa nguyên vẹn triết học duy vật của Mác, do đó, về mặt triết học, chủ nghĩa Lênin chính là chủ nghĩa Mác.
Nói về kinh tế chính trị, các bạn đều đã được học tinh thần cơ bản của bộ Tư bản. Mác đã phân tích chủ nghĩa tư bản (theo cách gọi của ông), trong đó đưa ra khái niệm tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị thặng dư (c+v+m). Điều làm cho chủ nghĩa Mác khác hẳn với các lý luận khác là ở chỗ: Mác khẳng định nhà tư bản bóc lột lao động làm thuê. Lý luận của Mác như sau: Hãy giả sử có nhà tư sản luôn luôn mua được rẻ, thế thì ông ta chỉ lợi khi là người mua, và thiệt thòi khi là người bán, tóm lại không lợi gì. Lại giả sử có nhà tư sản luôn luôn bán đắt, thì ông ta được lợi khi là người bán, nhưng thiệt thòi khi là người mua, tóm lại vẫn không lợi gì. Bây giờ giả sử có nhà tư sản luôn mua được rẻ, bán đắt; thế thì chỉ nhà tư sản đó có lợi thôi, giai cấp tư sản không thể làm giầu trên lưng mình được. Vậy giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất ở đâu ra? Mác cho rằng đấy là giá trị do người làm thuê làm ra, bị nhà tư sản chiếm không. Toàn bộ lý luận này dựa trên tiền đề cơ bản là trao đổi ngang giá. Mới nghe qua thấy lý luận rất chặt, có lý, nhưng suy nghĩ thêm một chút thì…không ổn. Câu hỏi đặt ra là: Thế thì “công lao động” của nhà tư sản ở đâu? Lý luận của Mác không có phần này! Kể cũng lạ, Mác thừa nhận chế độ tư bản đã sản xuất ra một lượng hàng hoá khổng lồ, vượt qua tất cả số lượng hàng hoá do các chế độ trước cộng lại, vậy mà các nhà tư sản, nhân vật chính của chế độ tư bản lại không có công gì? Để mọi việc trở lại bình thường như vốn có, chỉ cần “thêm” phần công của các nhà tư sản vào lý luận trên. Ngoài phần trả công định lượng bằng tiền, còn có phần “tinh thần”, hay nói khác đi, có phần “tư tưởng”, phần “ý tưởng”, không đo được bằng tiền. Nhưng nếu làm thế thì lại phải thừa nhận phần “tinh thần”, hay gọi theo kiểu triết học là phần “ý thức” trong nguồn lực sản xuất, là điều mà Mác đã xoá bỏ ngay từ đầu khi xác định triết học cùa mình là “duy vật”. Sau này Lênin kế thừa toàn bộ lý luận của Mác, vận dụng lý luận này vào việc nghiên cứu kinh tế (Xem bài “Bàn về kinh tế thị trường” của Lênin). Trong bài Bàn về kinh tế thị trường, Lênin chia thành 2 khu vực sản xuất: khu vực sản xuất ra tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất ra tư liệu tiêu dùng. Lý luận cơ bản của bài này đã được đưa vào giáo trình dạy kinh tế chính trị trong trường đại học, các bạn đều đã biết. Theo tôi, lý luận này có 2 điểm yếu chí mạng: thứ nhất, lý luận trên không đề cập đến giá trị tinh thần có trong sản phẩm. Giá trị này biểu hiện qua thương hiệu, uy tín của nhà sản xuất.v.v…Thứ hai, lý luận trên chỉ xét khi nhà tư sản bán được hàng. Thế nếu nhà tư sản không bán được hàng thì sao? Thì toàn bộ lý luận trên chỉ còn nước…vứt đi. Các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa học tại các trường Đảng nghĩ rằng hễ đem bằng này tiền đầu tư sản xuất thì có bằng kia sản phẩm, lãi là bằng này, thế tức là sản xuất phát triển. Rồi họ lấy tổng số vốn + lãi chia cho số vốn và kết luận năm nay đã tăng được bấy nhiêu phần trăm. Kết quả là sản xuất ngày càng kém, thiếu hàng hoá trầm trọng. Họ quên mất hàng sản xuất ra phải bán được, yếu tố bán được phụ thuộc nhiều vào giá trị tinh thần mà trong lý luận kinh tế Mác không xét đến. Nhưng với chúng ta thì đã rõ: chủ nghĩa Lênin đã kế thừa chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực kinh tế chính trị, có thể nói chủ nghĩa Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại mới là sự thật hiển nhiên.
Vào những năm 80 (thế kỷ XX) tôi đọc một bản tin phổ biến cho các lãnh đạo cao cấp có tin như sau: Một công ty Nhật đưa toàn bộ rô-bốt vào công đoạn sản xuất, số công nhân ở đây bị sa thải. Bản tin phê phán tính chất khắc nghiệt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng về lý luận thì điều đó dẫn đến câu hỏi: Lý luận “bóc lột lao động làm thuê” của Mác trong trường hợp này sẽ ra sao? Tôi không tìm được câu trả lời, dành cho các bạn xét tiếp.
Bây giờ chúng ta nói đến chủ nghĩa xã hội khoa học. F.Ăngghen khẳng định Mác là thiên tài khi phát hiện ra lý luận “đấu tranh giai cấp”, “đấu tranh giai cấp là đầu tầu của lịch sử”. Lý luận đấu tranh giai cấp của Mác dẫn đến khái niệm “chuyên chính vô sản”, được Lênin kế thừa, tuy có điểm khác biệt với Mác. Mác đã coi chế độ “cộng hoà đại nghị”“chính quyền chuyên chính vô sản tốt nhất” (xem ra, Mác khá là dân chủ). Thoạt đầu, Lênin cũng đồng tình với ý kiến này. Năm 1917, cách mạng tháng Mười thành công ở Nga, Lênin tổ chức cuộc bầu cử có tính chất toàn dân, rất dân chủ. Nhưng kết quả cuộc bầu cử làm Lênin choáng váng: Những người bônsêvích chỉ chiếm tỉ lệ 13% trong chính quyền mới. Ông giận dữ huỷ bỏ kết quả bầu cử, cho bầu cử lại. Sau đó ông đưa ra lý luận: Chính quyền chuyên chính vô sản tốt nhất là chính phủ công, nông, binh mà ông gọi là “chính quyền Xô-viết”. Nếu trong triết học và kinh tế chính trị Lênin không khác với Mác bao nhiêu thì trong lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Lênin khác với Mác khá nhiều. Sự khác biệt này trong nhiều năm được coi là bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác, nâng cao chủ nghĩa Mác lên thành chủ nghĩa Mác -
Lênin. Có thể kể thêm vài khác biệt: Mác nói cách mạng vô sản chỉ xẩy ra khi giai cấp vô sản chiếm đa số trong dân cư, khi cách mạng nổ ra cùng lúc ở tất cả các nước tư bản phát triển nhất…Lênin đưa ra lý luận “liên minh công nông”, từ đó ông cho rằng cách mạng có thể xẩy ra khi liên minh giai cấp công nhân và nông dân chiếm đa số, đồng thời dựa trên nhận xét chủ nghĩa tư bản phát triển không đều ông cho rằng cách mạng vô sản có thể chỉ xẩy ra ở số ít nước, thậm chí một nước duy nhất. Từ khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ toàn diện ở châu Âu mới có người đòi tách bạch chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin để bảo vệ Mác. Nhưng nếu xem xét lý luận chủ nghĩa Lênin trong hướng phát triển của chủ nghĩa Mác thì phải công nhận rằng: Chủ nghĩa Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh mới. Vào những năm 30 thế kỷ XX, Mao Trạch Đông ở Trung Quốc muốn đưa ra “tư tưởng Mao Trạch Đông”, sau này các nhà nghiên cứu gọi là chủ nghĩa Mao, như là chủ nghĩa Mác áp dụng vào Trung Quốc (để song hành với chủ nghĩa Lênin là sự áp dụng chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh nước Nga). Có một thời kỳ dài các nhà lý luận cộng sản xem tư tưởng Mao chính là chủ nghĩa Mác-Lênin ở phương Đông. Điều đó không quá xa lạ vì Mao thừa nhận triết học Mác – Lênin, kinh tế chính trị Mác – Lênin, lý luận đấu tranh giai cấp của Mác – Lênin, chỉ có điều đưa cuộc đấu tranh giai cấp lên mức độ khốc liệt hơn nhiều. Phương pháp “đấu tố” của Mao là một kiểu “đấu tranh giai cấp” đấy chứ, làm sao có thể bảo hoàn toàn trái với chủ nghĩa Mác-Lênin? Đến khi Mao chống lại Đảng Cộng sản Liên Xô, nhằm giành giật vị trí lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế thì các “nhà mác-xít” mới chống Mao, chứ trước đó Mao vẫn là “nhà mác-xít vĩ đại” đó thôi. Năm 1951, tại đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ hai, điều lệ Đảng chẳng ghi rằng: Nhiệm vụ của đảng viên là học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chủ tịch là gì? Sao bây giờ lại bảo chủ nghĩa Mác không phải là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Lênin không phải là chủ nghĩa Mao…Hoá ra các “nhà khoa học”, “nhà nghiên cứu” cũng tiền hậu bất nhất y như con buôn hay sao?
Tất cả các “nhà lý luận” từ Mác, Ăngghen đến Lênin, Stalin, Mao…đều đã là quá khứ, là một phần của lịch sử rồi. Cho dù họ có gây ra bao nhiêu đau khổ cho nhân loại đi nữa thì cũng đã thành dĩ vãng. Các bạn không nên bận tâm nhiều về họ nữa, hãy tập trung ý chí vào cuộc sống hiện nay, nghĩ cách và hành động để đưa Việt Nam hoà chung vào dòng chảy chung của loài người tiến bộ, vì một tương lai cho các thế hệ mai sau.

Trần Đức Việt