Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

BẠN BIẾT GÌ VỀ NƯỚC MỸ?

 
Sau thời gian dài chiến đấu đẳm máu với thực dân Anh. Cuối cùng 13 Tiểu Bang trong Liên Hiệp Anh ly khai, cũng đã dành được Ðộc Lập cho xứ sở, mà ngày nay chúng ta trang trọng đón mừng hằng năm. Ðó là ngày 4-7-1776 , lần đầu tiên ‘ BẢNG TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN ‘được công bố trước quốc dân đồng bào..
Cũng từ đó, ách nô lệ của Anh tại đây chấm dứt. Ðể tạo nên niềm tự hào của một dân tộc có độc lập và tự do thật sự, năm 1789 Webster Noah là người đầu tiên ấn hành quyển Tự Ðiển Tiếng Mỹ, nói lên ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Cùng lúc Benjamin Franklin cũng đã phát minh ra những mẫu tự đơn giản. Nhận thức được tương lai của đất nước, sẽ mở rộng bờ cỏi và đón nhận nhiều sắc dân tới lập nghiệp tại Hiệp Chũng Quốc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bởi vậy Noah Webster càng chú trọng rất nhiều tới ngôn ngữ học bằng cách phát hành nhiều loại sách giáo khoa, giảng dạy về ngữ pháp, chính tả.. tới nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong dời sống người Mỹ.
 

Sau này có M.Guffey hợp tác với Noah, đã bộc lộ tinh thần ái quốc và đạo đức, qua các tác phẩm được phổ biến, làm cho mọi người cảm động và càng ý thức rõ hơn bổn phận trách nhiệm của một công dân đối với xã hội và quốc gia của mình. Tuy ngày nay theo bánh xe văn minh của nhân loại, những công trình của các bậc tiền nhân đã bị lỗi thời với thời gian nhưng tên tuổi của ông vẫn còn nguyên vẹn. Thật vậy, đối với lịch sử Hoa Kỳ, chính Noah Webster đã có công tạo nên Ngôn Ngữ riêng cho người Mỹ, dù nó có nguồn gốc từ tiếng Anh mà thật sự không phải là tiếng Anh nguyên thủy. Trường hợp này cũng tương tự như Ngôn ngữ Việt Nam , có nguồn gốc từ Hán Tự và La Tinh nhưng không phải là chữ Hán hay La Tinh gốc.
Cùng với chiều hướng Ðộc Lập trên, Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ là Washington đã phát biểu ‘ Hiệp Chũng Quốc bắt nguồn từ 13 thuộc địa của Anh nhưng Nay Là Quốc Gia Ðộc Lập. Vậy tai sao chúng ta cần gì phải quay về với Châu Âu hay Luân Ðôn để bắt chước họ ? qua đợi chờ xin xõ phê chuẩn. Trong đó, sự học hỏi trên, xét cho cùng, cũng chỉ là sự quê mùa, lỗi thời ‘.Hởi ôi nếu các nhà lãnh đạo VN bao đời, có được một phần tư tưởng độc lập như TT Mỹ, thì chắc chắn đất nước chúng ta ngày nay đâu phải đắm chìm trong vũng bùn ô nhục tồi tệ và thua kém nhân loại vì luôn lệ thuộc vào ngoại bang, trong đó có Tàu là kẻ thù không đội trời chung bao đời của dân tộc Việt, luôn tìm đủ mọi cách để tiêu diệt và đồng hóa chúng ta qua ba lần đô hộ trong quá khứ nhưng không thực hiện được.

 
Ðể đổi lấy nền Ðộc lập cho đất nước Hoa Kỳ ngày nay, nhiều đại biểu của 13 Tiểu Bang ly khai đã gục ngả trước súng đạn của thực dân Anh. Thomas Jefferson được đề cử soạn thảo Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền cho Hiệp Chũng Quốc, trong lúc cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn giữa Anh-Mỹ. Thế rồi sau ba ngày tranh luận gay gắt, giữa các đại biểu trong phòng họp, cuối cùng hội nghị cũng đã bỏ phiếu, thông qua và chấp thuận Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập trên, vào ngày 2-7-1776.
Ðiều bi thảm mà tới nay con cháu ít ai biết tới. Ðó là vào ngày 4-7-1776 công bố nền độc lập của Hoa Kỳ, được diễn ra trong thầm lặng, chết chóc, máu lệ khổ đau. Bởi thực dân Anh đâu có để yên cho những người chủ xướng, nên ra tay triệt hạ tất cả ai lúc đó dám nói tói Ðộc Lập cho Hoa Kỳ. Theo sử liệu, có 56 người đã ký vào Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Ðộc Lập Mỹ. Tất cả đều là sĩ phu trí thức đương thời, biết trước hậu quả về hành động của mình nhưng bất chấp mạng sống cá nhân và gia đình, chấp nhận hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, đất nước.. Trong số này có Francis Hopkinson quê New Jersey , là một tài hoa hiếm có. Ông chính là tác giả của Lá Quốc Kỳ Mỹ được lưu hành và tồn tại tới ngày nay. Tóm lại tất cả những người trong cuộc đều có gia đình, lớn tuổi nhất là Benjamin Franklin (70 tuổi) và ba người chỉ mới 20 tuổi.
Ngay khi phát giác được Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập, Thực dân Anh lồng lộn điên cuồng, ra lệnh truy tìm và hạ sát những người có tên trong đó. Ngoài ra còn treo giá 500 Bảng Anh cho ai chỉ điểm, phát giác họ. Cuối cùng Anh tuyên bố Treo Cổ Tất Cả. Do sự khủng bố trên, nên hầu hết những người liên quan tới Bảng Tuyên Ngôn, lớp chết, lớp ở tù. Nhiều người bị thương tật khốn khổ vì sự tra tấn đánh đập dã man của kẻ thù, khiến cho cửa nhà tan nát, gia đình ly tán. Trong số ít ỏi sống sót sau này, hai người đã trở thành Tổng Thống Mỹ là John Adams và Thomas Jefferson.
Cái giá độc lập của Hoa Kỳ là thế đó, mà những người khai sinh ra nó, phải đổi bằng mạng sống, máu lệ đem về. Cho nên các thế hệ sau ai nấy đều vô cùng cảm kích và trang trọng noi theo truyền thống yêu nước của tổ tiên mọi thời. Ðó là kết quả của quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một miền đất tạp chũng nhất trên thế giới, lại là đệ nhất siêu cường, một xứ sở tự do cá nhân nhưng ai cũng biết dừng lại trước giới hạn của mình, đối với quyền lợi chung của Tổ Quốc. Cho nên đừng phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hoà, tổng thống này màu da nọ. Tất cả tuy hai mà một vì ai cũng chỉ biết có quyền lợi của dân tộc và đất nước Hoa Kỳ mà thôi, nếu có si chăng nữa, thì cũng là do cái tâm cá nhân của kẻ đương quyền đi trệch hướng đã vạch sẳn.
Hai năm nay (2009-2010), cả thế giới điêu đứng vì thảm trạng suy trầm kinh tế, nước Mỹ náo loạn vì nạn thất nghiệp, kéo nhà vì mức thâm thủng mậu dịch khổng lồ chưa từng có , do sự lường gạt vô tiền khoáng hậu của Trung Cộng qua lãnh vực thong mại. Dù vậy Hoa Kỳ cũng vẫn là quốc gia vĩ đại hiện nay, nhất về đủ mọi phương diện kể cả mức thu nhập bình quân đầu người trên 40.000 USD bỏ xa Thụy Sĩ (33.800) , Úc (30.700), Anh (29.600), Nhật (29.400), Ðức và Pháp (28.700)..
Căn cứ vào tác phẩm nổi tiếng ‘ Un Jour De La Vie De L’Amerique ‘ do nhà xuất bản Robert Laffont tại Pháp ấn hành, tổng hợp từ bài viết của hơn 200 ký giả ngoại quốc và trên 250.000 tấm ảnh độc đáo vô cùng giá trị. Nhờ vậy chúng ta mới có cơ hội hiểu được phần nào về ‘ Một đất nước trong một lục địa ‘ có lảnh thổ rộng lớn tới 9.629.091 km2 (chỉ thua Nga , Canada , Trung Cộng) với tổng sản lượng quốc gia gấp trăm ngàn lần nhiều nước khác trên thế giới. Hiện dân số Mỹ 295.734 triệụ người, đông nhất vẫn là da trắng (chiếm 77% ), da đen (12 %) , gốc La Tin như Y Pha Nho, Bồ Ðào Nha (8%) .. còn lại là thiểu số người gốc Châu Á, Polynésien và Da Ðỏ . Có hơn 73,5% người Mỹ sống tại các đô thị lớn nhỏ . Los Angeles nằm trong tiểu bang California, là một trong những siêu đô thị hiện nay của Hoa Kỳ, xuất phát từ cái tên do người Mễ đặt ‘ El Pueblo De Nuestra Senora Le Reina De Los Angeles De Porcianculal ‘ , hiện có trên 12 triệu dân nói lẫn lộn tiếng Tây Ban Nha và Anh Ngữ. Trong khi đó New York lại là thành phố lớn nhất của Mỹ, cũng là đô thị có nhiều người Do Thái sinh sống nhất trên thế giới, sử dụng tiếng Yiddish (Israel) , loại cổ ngữ chỉ còn xài ở Trung Ðông mà thôi.
Toàn quốc có 15.132 phi trường lớn nhỏ, trong đó Chicago và Dallas Fort Worth được coi là lớn nhất thế giới, cứ 14 giây là có một phi cơ hạ hay cất cánh nhưng có điều kỳ lạ là người Mỹ không thích xuất ngoại bằng máy bay, nên trung bình hằng năm có chừng 15 triệu người ra nước ngoài. Về phương tiện giao thông, Hoa Kỳ đứng đầu thế giới với 6 triệu cây số xa lộ , 150 triệu xe ô tô đủ loại và 30 triệu xe vận tải hạng nặng, xuôi ngược khắp nước hàng ngày, qua vận tốc ấn định từ 88-105 km/giờ.
Kỹ nghệ sản xuất xe hơi của Mỹ vẫn đứng đầu thế giới cho dù mọi người xài cả xe Nhật lẫn Châu Âu. Thủ đô ô tô của Mỹ là Detroit thuộc tiểu bang Michigan nằm kế Ngủ Ðại Hồ. Một người di dân Pháp tên Antoine De La Mothe Cadillac đã lập ra thành phố này. Vì vậy để tưởng nhớ tới ông, các công ty sản xuất xe hơi của Mỹ, mới đặt tên cho một loại xe đắt tiền nhất do Hoa Kỳ chế tạo là ‘ Cadillac ‘.Tới nay ba đại công ty Géneral Motors, Ford và Chryslev vẫn đứng đầu cả nước và thế giới về mức sản xuất xe, qua sự hổ trợ của nhiều công ty nhỏ . Ngoài ra Hoa Kỳ còn là cường quốc dẫn đầu thế giới về điện nguyên tử, máy bay, máy điện toán, thuốc lá, bắp, thịt bò, than đá..
Tuy người Mỹ sống rất thực tế nhưng hầu hết đều tham gia các công tác từ thiện với số tiền góp và tậng phẩm hằng năm gần 100 tỷ mỹ kim. Tóm lại không có ai dám nói rằng mình biết hết chuyện nước Mỹ vì đời sống ở đây gần như thay đổi từng giây từng phút, khó lòng dự đoán được. Với Người Việt Tị Nạn Cộng Sản qua 35 năm lưu vong, nay đã để lại một dấu ấn tốt đẹp và đậm nét trong những trang sử của Hoa Kỳ. Ðó là sự hình thành các cộng đồng Người Việt Quốc Gia mà biểu tượng là ‘ Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ ‘ đã được nhiều Tiểu Bang công nhận, tại các thành phố lớn như San José, Los Angeles, Houston, Wasington DC, New York, Seattle.. và nhất là Little Sài Gòn, thủ đô của Người Việt Hải Ngoại..
Tóm lại, người Mỹ không cần biết tới đời tư của bất cứ cá nhân nào khi họ dấn thân vào con đường chính trị, miễn sao các cấp lãnh đạo, mang cho dân chúng có đủ cơm ăn áo mặc, đất nước thanh bình, uy tín của Hoa Kỳ được tôn trong khắp thế giới là đủ rồi.
Ngoài các vấn đề trên, đối với người Mỹ cho dù là người địa phương hay di dân, trong thâm tâm bất cứ ai cũng đều mang một sự hãnh diện với thế giới, qua các công trình kiến tạo của tiền nhân suốt 200 năm lập quốc : phố xá khang trang, nhà cửa đồ sộ, thư viện đầy ắp báo chí sách vở, chợ búa sạch ngon, bến tàu phi trường tấp nập rộn rịp về cảnh sắc lẩn tình người. Nói chung, dù dân tộc Hoa Kỳ chỉ mới lập quốc nhưng hầu hết đều có lễ nghĩa đạo đức, lương thiện và chan hòa tình thương không biên giới (trong đó sự cưu mang hơn 3 triệu người VN Tị Nạn Cộng Sản, từ tháng 5-1975 tới nay), nên đã nhanh chóng thu phục được nhân tâm và đứng đầu thế giới về mọi mặt.
Người Việt tị nạn CS chúng ta may mắn được sống hạnh phúc trên đất Mỹ, với đầy đủ các quyền lợi đã qui định từ Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập và Nhân Quyền, mà đâu mấy ai hiểu rõ là Tiền Nhân đã đổi lấy nó bằng máu và mạng sống trước bạo lực. Bởi vậy để đền đáp phần nào tấm lòng nhân đạo mà Hoa Kỳ đã rộng mở , chúng ta phải biết ‘ nhập gia tuỳ tục ‘, làm tốt bổn phận công dân và cố gắng phát huy truyền thống tinh hoa của Dân Tộc Việt, để không hổ danh là con Hồng Cháu Lạc dù đã có quốc tịch Mỹ hay đang sống tạm nơi xứ người.

+ Chuyện Dài Súng Ðạn Tại Mỹ ,
Ðến giờ, nước Mỹ vẫn điên đầu về chuyện súng đạn gần như vô phương giải quyết. Súng đạn đã làm ba vị Tổng Thống Hoa Kỳ thiệt mạng. Súng đã giết tập thể nhiều nam nữ học sinh, sinh viên và thầy cô ngay tại nhà trường. Cũng vì súng mà nhiều thanh thiếu niên đã vướng vào con đường tội lỗi mất hết tương lai. Thê nhưng chính quyền tiểu bang lẫn liên bang vẫn bất lực và người Mỹ cứ tiếp tục là nạn nhân của súng.
Ðây là vấn đề được bàn cải nhiều năm, qua câu hỏi đặt ra là ‘ từ thuở lập quốc ông cha ta có thích súng hay không ? ‘ Nhiều người đã trả lời là có khi dẫn chứng lời của ông Richard Henry Lee, đã viết vào Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ ‘ Ðể bảo vệ tự do, điều cần thiết là tất cả mọi người phải luôn giữ vũ khí và được dạy cách sử dụng ngay khi còn trẻ ‘.Nhưng theo nhận xét của giáo sư Michael Bellesiles tại Ðại học Emory thuộc thành phố Atlanta, cho rằng người xưa đâu có thích giữ súng đạn, khi ông dựa vào 1000 hồ sơ lưu trữ từ 1765-1850, phân tích qua các bản di chúc phân chia tài sản đã không thấy ai nhắc tới vũ khí như gươm giáo súng đạn vào thời đó.
Còn các tài liệu liên quan tới lịch sử Hoa Kỳ, có nhắc tới những vụ kiểm kê tại tiểu bang Massachusetts là một trong hai trung tâm sản xuất vũ khí của Mỹ vào năm 1840, cho thấy chỉ có 11% dân số có giữ súng đạn. Ðiều này cho thấy người Mỹ thuở lập quốc không mấy người giữ súng đạn trong nhà. Thật ra thời đó súng đạn rất đắt, chỉ riêng tiền mua một khẩu súng trường Mousqueton, tương đương với tiền kiếm được của một nông dân cả năm. Sỡ dĩ súng quá đắt vì lúc đó Mỹ phải nhập cảng từ Anh, Pháp, Ðức. Ngoài ra còn phải tốn tiền bảo trì súng làm bắng sắt nên mau hoen rĩ không xài được. Do đó chỉ có giới trung lưu trở lên mối có tiền sắm súng riêng mà thôi.
 
 
Trước khi xảy ra cuộc nội chiến, Hoa Kỳ chỉ có hai lò sản xuất súng đạn tại Harpers Ferry (Virginia) và Springfield (Massachusetts) nhưng không đủ trang bị cho quân đội. Vì vậy năm 1793 quốc hội Mỹ phải mua 7000 khẩu súng trường và năm sau chỉ còn tiền nhập thêm 400 khẩu nữa mà thôi, để trang bị cho quân chính qui. Với các lực lượng dân quân lại càng thiếu thốn, nên phải dùng gươm giáo thay thế. Năm 1808 liên bang đã cấp súng đạn cho dân da trắng khi họ tình nguyện vào đơn vị dân quân tự vệ. Tuy nhiên đó cũng chỉ là lý thuyết vì mãi tới năm 1839, chỉ có các đơn vị ở Massachusetts mới được trang bị vũ khí đầy đủ mà thôi.
Tóm lại việc phát triển súng đạn tại Mỹ bắt đầu từ cuộc nội chiến Nam Bắc (1861-1865) cũng là thời kỳ đất nước bắt đầu kỹ nghệ hóa. Do đó chỉ trong năm 1864, riêng lò Springfield đã sản xuất tới 600.000 khẩu súng trường, bằng số súng cả nước Mỹ gộp lại trong 70 năm trở về trước. Ngân sách quốc phòng của Bắc quân cũng tăng tới 179 triệu USD (bằng 2,5 tỷ hiện nay) nên tha hồ mua sắm hay sản xuất súng đạn. Nam quân cũng đâu chịu thua, thế là hai phe tha hồ chạy đua phát triển quân sự để dành chiến thắng.
Năm 1865 cuộc nội chiến chấm dứt nhưng chính quyền vẫn không ban hành lệnh thu hồi số súng đạn đã cấp phát . Bởi vậy hầu hết binh sĩ khi được lệnh giải ngũ đã đem vũ khí cá nhân về cất giữ tại nhà. Ðó là lần đại vũ trang cho toàn dân Mỹ với số lượng lên đến vài triệu khẩu, mở đầu cho làn sóng tội lỗi bừng phát vào thời kỳ hậu chiến, mà nạn nhân quan trọng nhất đầu tiên hứng chiu là Tổng Thống Abraham Lincoln. Còn Samuel Colt là tên lái súng đầu tiên của Mỹ trong ngành mua bán vũ khí, dùng tiền bạc hối lộ chính quyền để được luật hợp thức hoá. Ðương sự cũng là nhân vật đã phát sinh nghề vận động hành lang (lobby) của giới buôn bán súng. Tuy vậy việc cho sử dụng súng từ 1870-1880 kể cả vùng Viễn Tây Hoang Dã vẫn chưa chính thức như các cảnh thấy trong phim cao bồi chỉ là thêu dệt quảng cáo. Căn cứ vào các tài liệu còn lưu trữ , thì bạo lực súng đạn đã xảy ra nhiều nhất tại các thành phố lớn ở miền đông, hơn là tại các trang trại đồng cỏ của giới chăn bò. New York mới chính là thiên đường của những tên sát nhân vì là hang ổ của các tập đoàn Mafia Ý lúc đó chuyên buôn lậu rượu, súng đạn và kỷ nghệ gái điếm.
Tới cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ ngày càng có nhiều người giữ súng vì quá rẽ và các điều kiện mua thật dễ dàng, qua nhiều hảng sản xuất vũ khí cũng như sự thay đổi của Hiệp hội súng trường Mỹ (National Rifle Association, viết tắt là NRA), được thành lập vào năm 1872 và quyết định của quốc hội cho phép quảng bá việc sử dụng súng trường vào năm 1903. Sau đó chính phủ còn đem số súng sản xuất thặng dư tặng cho các câu lạc bộ súng được NRA đở đầu.
Tháng 11- 1963 Tổng thống John F Kenedy bị ám sát bằng súng khiến cho quốc hội phải thông qua luật kiểm soát vũ khí (Gun Control Act) đồng thời cấm mua bán súng qua đường bưu điện. Luật trên được NRA ủng hộ nhưng sau đó lại bị một vài thành viên phản đối như Hanlon Carter (Texas) và cuối cùng đã xóa sổ tổ chức NRA cũ để lập một hội buôn bán vũ khí mới, mà số hội viên vào năm 2000 đã lên tới 2,5 triệu người. Từ đó NRA ngoài việc chống sự kiểm soát việc sử dụng súng đạn của dân Mỹ, mà còn là một đảng phái chính trị, gây nhức nhối cho chính quyền kể cả các vụ ám sát bằng súng mà nạn nhân kế tiếp là tổng thống Reagan và thượng nghị sỉ Brady, tuy cả hai chỉ bị thương không mất mạng.

+ Từ Chuyện In Tiền Tới Những Vụ Khủng Hoảng Tài Chánh Lớn Nhất Của Mỹ .
Các đại công ty của Mỹ lừng danh trên thế giới như Coca Cola, Citibank, Ford, Macintosh.. đã làm ra nhiều tiền của cho quốc gia Hoa Kỳ. Nhưng chính Cơ Quan In Tiền (Bureau of Engraving and Printing) viết tắt là BEP , thuộc Bộ Tài Chánh của Liên Bang Hiệp Chủng Quốc, mới là nơi hằng ngày đã in hằng triệu đô la cho khắp thế giới sử dụng.
Nhà in tiền này qua cái tên The Money Factory, tọa lạc tại đường 14 thủ đô Hoa thịnh Ðốn (Washington DC) , mở cửa hằng ngày cho phép mọi người vào tìm hiểu sinh hoạt của BEP, hoàn toàn miễn phí và rất giản dị trong thủ tục kiểm soát an ninh với mọi người. Khách bị ngăn cách bên trong bằng bức tường kính dày và cao đến tận trần nhà. Tóm lại để hoàn thành tờ giấy bạc, nhà in tiền phải trải qua 65 công tác in ấn từ giai đoạn bản kẻm cho tới khi bạc được xếp thành từng bó 100 tờ để phát hành. Theo tài liệu cho thấy nhà in hoạt động từ tháng 8-1862 tới nay chưa hề xảy ra một trường hợp mất mác nào đáng tiếc, tuy các công nhân viên đang ở giữa núi tiền. Tất cả các loại giấy bạc của Hoa Kỳ đều đuợc in tại đây từ năm 1863 và tới nay chỉ còn 6 loại tiền giấy từ 1 tới 100 USD thông dụng mà thôi.
Về việc chọn in chân dung các nhân vật trên tờ giấy bạc do Bộ trưởng tài chánh quyết định. Theo đó tờ 1 đồng in hình Tổng thống đầu tiên của Mỹ là George Washington. Kế tiếp là TT Thomas Jefferson tờ 2 đồng, TT Abraham Lincoln tờ 5 đồng, Bộ trưởng tài chánh Alexander Hamilton tờ 10 đồng, TT Andrew Jackson tờ 20 đồng, TT Ulysses Grant tờ 50 đồng và cuối cùng là TT Benjamin Franklin tờ 100 đồng có giá trị cao nhất. Ðồng đô la đã gắn liền với đời sống của người dân Mỹ. Ðó là một chân lý như nhận xét của thi hào kiêm triết gia nổi tiếng của Mỹ ‘ Dân Hoa Kỳ rất ít có đức tin , họ chỉ tin vào sức mạnh của đồng đô la mà thôi ‘.Nhưng cũng chính vì cái giá trị siêu đẳng của nó, mà cả nước Mỹ và hầu hết các quốc gia trên thế giới chọn đồng Ðô La Mỹ làm bản vị, suốt bao năm qua đã bị phá sản vì đồng Yuan (Nhân Dân Tệ ) của Trung Cộng ăn bám vào đồng Ðô La Mỹ để thủ lợi làm giàu. Hiện Hoa Kỳ chưa có một kế sách nào để đối phó với Tàu đỏ, trừ phi Xóa Sổ Giựt Nợ thiên hạ như đã từng làm năm 1929 và năm 1972.
Thứ ba ngày 29-10-1929 có thể nói là ngày đen tối nhất của người Mỹ đối với nền kinh tế đang trong cơn khủng hoảng, nhất là với thị trường chứng khoán. Ngày đó không người Mỹ nào quên được, đã xảy ra lúc 10 giờ sáng thời gian mà thị trường cổ phiếu tại New York mở cửa với tin sét đánh khi chỉ số Dow Jones tụt xuống một cách khủng khiếp: 368-298, giảm 22% . Và ngày đó được gọi là ‘ Ngày Thứ Ba Ðen Tối ‘, làm cho nền kinh tế của Mỹ và thế giới tụt giốc thê thảm, kéo dài hơn 10 năm tới Thế chiến 2 bắt đầu (1939) mới tạm chấm dứt cơn ác mộng. Cũng từ đó tới năm 1954, thị trường chứng khoán Mỹ lại đạt được mức kỷ lục như năm 1929 nhưng sự lo lắng hải hùng của ngày thứ ba đen vẫn luôn ám ảnh đời sống người dân Mỹ
Ngày 19-10-1987 lần nữa sự đen tối lại đến với thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Ngày đó, chỉ số Dow Jones tụt 508,32 điểm làm cho cổ phiếu Mỹ rơi vào tình trạng hổn loạn đóng băng, gieo màu tang trắng lên khắp khu phố Wall (New York) , kéo theo sự sụp đổ hàng loạt các thị trường chứng khoán London, Tokyo, Sydney, HongKong, Singapore. Tai họa năm 1929 thật sự đã trở lại với mọi người, chỉ trong chốc lát tỷ phú biến thành kẻ trắng tay như Sam Wolton mất trắng 2,1 tỷ USD và tất cả bất động sản. Tuy nhiên nhờ lúc đó kinh tế Mỹ còn đang phát triển mạnh nên sớm vươn mình trở lại sau cú sốc chết người.
 

Mới đây 2-7-2008 lần nữa thị trường chứng khoán tại New York cũng đột nhiên sụt điểm thê thảm chưa từng thấy, báo hiệu kinh tế Hoa Kỳ đang đứng trên bờ vực thẳm khủng hoảng vì giá dầu có tăng mà không thấy giảm.Tuy nhiên kẻ thiệt hại duy nhất không phải chỉ có Hoa Kỳ mà còn thêm siêu cường Trung Cộng vì bao nhiêu vốn liếng đều đầu tư vào cổ phiếu Mỹ ngay từ thời kỳ đổi mới kinh tế. Ðây cũng là dịp may ngàn năm có một, đã giúp ông Obama trở thành Tổng Thống và đảng Dân Chủ thống lĩnh Quốc Hội Hoa Kỳ. Nhưng cũng kể từ đó (1-2009) tới cuộc bầu cử Bán Phần (11-2-2010) , Toà Bạch Ốc và Quốc Hội đã không thực thi được bất cứ một điều gì đã hứa để đánh gục đảng Cộng Hoà..

+ BOEING DREAMLINER : Máy Bay Mỹ Bán Chạy Nhất Thế Giới Trong Thế Kỷ XXI
Ngày 8-7-2007 công ty Boeing của Mỹ đã cho trình diện trước công chúng tại tiêu bang Washington kiểu máy bay mới nhất ‘ 787 Dreamliner ‘ qua các kiểu 787-3, 787-8, 787-9 và 787-10. Giá mỗi chiếc hiện nay từ 146 tới 200 triệu USD, công ty dự kiến sẽ sản xuất 2000 chiếc theo đơn đặt hàng trong vòng hai thập kỷ tới.
Ðây là loại máy bay thương mại, có khả năng chở được từ 210-330 hành khách, bay xa hơn 15.000 km. Thân phi cơ được chế tạo bằng sợi carbon composite (50%) và titanium (15%) , coi như loại máy bay chuyên chở hạng trung, tối tân nhất trong thế kỷ 21. Bởi vậy đã có trên 40 công ty hàng không quốc tế đặt mua 642 chiếc thuộc các kiểu 787 , trong số này có hảng Qantas của Úc sử dụng tới 115 chiếc B-787. Ðặc biệt có công ty Air Berlin của Ðức đặt mua 25 chiếc, trị giá hơn 4 tỷ USD.
Ðây là loại máy bay tối tân và ít tốn nhiên liệu nhất so với các loại phi cơ chuyên chở khác. Vì được chế tạo bằng vật liệu nhẹ như sợi carbon composite, aluminium vừa bền lại làm giảm trọng lượng thân máy bay, nên tiết kiệm tới 20% nhiên liệu sử dụng. Nhưng trên hết, B-787 đã đạt được đòi hỏi của ngành hàng không là Giảm Nhiên Liệu và Giảm Bớt Tác Hại Khí Thải Trong Bầu Khí Quyển. Ngoài ra B-787 còn được sử dụng lâu hơn các loại máy bay khác từ 20-30 năm. Về tiện nghi, phòng dành cho hành khách cũng lớn hơn, kể cả ghế ngồi, hành lang di chuyển, cửa sổ, phòng vệ sinh và áp suất trong cabin.. mọi thứ đều vượt xa các loại máy bay khác.
B-787 sử dụng hai động cơ Trent 1000 có trọng lượng 11.900 lb/1c, giúp phi cơ đạt được vận tốc gần 1500 km/h với lực đẩy 150.000 pounds, tương đương với sức mạnh của 1500 chiếc xe hơi 4 máy. Loại động cơ này được công ty Rolls-Royce của Anh đặc chế cho Boeing. Hiện B-787 đã cất cánh với chiếc đầu tiên do hảng máy bay ANA vào tháng 5-2008.
Chắn chắn máy bay Mỹ sản xuất càng thêm được thiên hạ ái mộ, qua biến cố vừa xãy ra tại Singapore vào ngày 4/11/2010 tại sân bay, khi một chiếc A-380 (Loại máy bay thương mại lớn nhất hiện nay do Liên Âu chế tạo, có sức chứa tới 800 hành khách, của hảng Qantas Úc bị nổ một trong 4 động cơ, Tai nạn đã làm Úc ra lệnh ngưng bay tất cả các máy bay loại trên đang có, ảnh hưởng rất nặng tràn lan cả thế giới.

+ Hoa Kỳ : Siêu Cường Quốc Thế Giới Về Sản Xuất Ðiện Nguyên Tử
Tính đến nay, Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thế giới về mức sản xuất điện nguyên tử , qua 113 lò phản ứng (LPU) mà 1/2 số lượng uranium đang sử dụng trong các nhà máy đều được mua từ các lò phản ứng của các nước cộng hòa cũ của Liên Bang Sô Viết sau khi sụp đổ vào năm 1991. Tuy số lượng nhà máy LPU được giảm từ 111-103 nhưng điện năng sản xuất lại tăng hơn 20%. Hiện chính phủ đang xây dựng các nhà máy mới và sẽ tiêu hủy những nhà máy đã lổi thời trong một nghĩa địa đặc biệt dành nhốt các chất phế thải độc hại.
Là quốc gia tiền tiến, nên từ năm 1960 Mỷ đã xây được nhà máy điện nguyên tử đầu tiên và sử dụng vào năm 1962. So với các nước tiên phong trong lãnh vực này (Liên Xô 1954, Anh 1956, Phap 1956), thì Hoa Kỳ tới sau nhưng lại là nước có nhiều LPU nhất thế giới 113/441 nhà máy, tổng công suất 98.054/369.374 MW toàn cầu. Những nhà máy điện Nguyên Tử của Hoa Kỳ đều sử dụng hai loại PWR (nước áp lực) và BWR (nước sôi). Tính đến cuối năm 2005, các nhà máy trên thuộc quyền sở hửu của 10 công ty lớn của tư nhân (68%), phần còn lại của chính phủ. Sự thành công lớn nhất trong kỷ nghệ sản xuất điện nguyên tử của Hoa Kỳ, là nâng cao được hiệu suất điều hành các lò phản ứng, cũng như sự bảo dưỡng tuyệt đối tránh được sự thất thoát các chất độc hại giết người, như đã từng xảy ra tại Liên Xô và Nhật vào mấy năm trước. Nhờ vậy điện nguyên tử đã cung ứng được 19% nhu cầu cả nước với điện lực sản xuất năm 2005 lên tới 780,5 tỷ KWH.
Bộ năng lượng Hoa Kỳ là cơ quan tối cao nhất của chính phủ liên bang, điều hành và quản trị LPU. Bộ này cũng phụ trách công tác nghiên cứu để phát triển kỷ nghệ điện nguyên tử tại các phòng thí nghiệm quốc gia Idaho và Argone Tây với số nhân viên trên 6000 người, qua mục đích phát triển các nhà máy điện nguyên tử thế hệ IV của Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài ra Mỹ cũng là quốc gia đang sở hửu nhiều vũ khí nguyên tử nhất thế giới. Hoa Kỳ cũng đã tham gia vào chương trình nguyên tử của LHQ để giúp Liên Bang Nga trong công tác pha loảng độ cao của chất uranium chứa trong 9000 đầu đạn nguyên tử, trở thành độ thấp (LEU) làm nhiên liệu để chạy các nhà máy điện nguyên tử tại nước này
Theo tài liệu mới nhất của Ủy Ban Nguyên Tử Thế Giới (WNA) cho biết Mỹ đang xây dựng thêm 13 LPU với tổng công suất 17.000 MW, do công ty AREWA(Pháp) hợp tác với một công ty Mỹ thực hiện theo kiểu nước áp lực cải tiến của Châu Âu. Về vấn đề tiêu hủy các chất phế thải tại cac nhà máy điện nguyên tử, Hoa Kỳ cũng đã ban hành luật cấm tái tạo các nhiên liệu nguyên tử đã sử dụng và mọi chất phế thải có độ phóng xạ cao. Tất cả được di chuyển đến địa điểm ân định để chôn vào lòng đất vĩnh viễn. Ðể thực hiện công tác này, các công ty điện nguyên tử đã đóng góp hơn 24 tỷ USD. Vào năm 2001 qua quyết định của lưỡng viện quốc hội, chọn khu núi Yucca thuộc tiểu bang Nevada làm nghĩa địa vĩnh viễn để chôn 70.000 tấn chất phế thải nguyên tử hiện có và sẽ tiếp tục vì khả năng thật sự của khu này lên tới 682.000 tấn.

+ HARVARD, Lò Ðào Tạo Nhân Tài Cho Thế Giới.
Là một trong hàng trăm viện đại học nổi tiếng lâu đời của Hoa Kỳ. Ðây là nơi đã sản sinh cho nước Mỹ 6 vị tổng thống, 35 nhà bác học nhận giải Nobel, 30 người được giải Pulitzer và hàng trăm nhân vật lảnh đạo đủ phương diện khắp thế giới. Trường được thành lập bởi nhóm di dân Thanh Giáo tại thành phố Cambridge tiểu bang Massachusetts vào năm 1636 với mục đích ban đầu là đào tạo các linh mục và luật sư cho cộng đồng giáo dân tại địa phương.
 

Năm 1708 khi John Leverett trở thành viện trưởng trường đại học Harvard mới bắt đầu thêm vào chương trình giảng dạy những môn học ngoài tôn giáo. Trường mang tên một linh mục John Harvard (1607-1638) vì ông đã hiến cho nhà trường nữa phần gia tài khi qua đời.Tính đến nay, trường được 372 tuổi và luôn được người Mỹ gọi là ngôi trường của giới cấp tiến với thành quả đạt được qua mọi lĩnh vực khoa học, kinh tế và chính trị. Các vị tổng thống Hoa Kỳ như Theodore Roosevelt, Franklin D Roosevelt, John F Kennedy.. đều xuất thân từ đây.
Ngoài ra còn các nhân vật khác nổi tiếng của nước Mỹ như Bill Gates, Algore, Henry Kissinger, các nhà văn nổi tiếng Norman Mailer, John Updike.. cũng đều là cựu sinh viên của trường. Nhờ có ngân quỷ khổng lồ trên 11 tỷ đô la, được dùng làm vốn đầu tư cổ phiếu và bất động sản, đem về tiền lời hằng năm cả trăm triệu đô la. Số tiền này nhà trường dùng để nghiên cứu khoa học, chi phí điều hành và trả lương cho các vị giáo sư có tiếng tăm khắp thế giới được mời về giảng dạy cho sinh viên theo học.
Do trên chi phí theo học tại đại học Harvard rất cao so với các đại học khác trên đất Mỹ với số tiền 40.000 USD/1 năm về khoảng học phí, bảo hiểm y tế và ăn ở. Tuy nhiên với các sinh nghèo được miễn học phí lại còn thêm phần học bổng. Vì uy tín của nhà trường quá cao, nên hầu như khắp thế giới nếu có điều kiện, ai cũng muốn có được tấm bằng của Harvard để kiến công lập nghiệp. Hiện trường có hơn 20.000 sinh viên theo học đủ các bộ môn, trong số này luật khoa đã chiếm tới 1/10 sĩ số.
Hơn ba thế kỷ qua mặc cho vật đổi sao dời nhưng nguyên tắc giảng dạy tại đại học này vẫn không thay đổi, bất chấp lợi nhuận vẫn không ảnh hưởng đến nhà trường. Ðiển hình nhất là vụ đạo diễn nổi tiếng của Hollywood Steven Spielberg, đã bị từ chối khi muốn mượn trường làm bối cảnh để quay cuốn phim lịch sử về tổng thống Mỹ John Quincy Adams từng xuất thân ở đây, với lý do trở ngại việc học hành của sinh viên. Năm 1998 Harvard xếp hàng đầu trong 10 trường đại học nổi tiếng nhất của Mỹ.
Tóm lại Hoa Kỳ là một quốc gia rộng lớn có diện tích bao trùm từ bờ Thái Bình Dương sang Ðại Tây Dương mênh mông vô tận. Sông Mississippi cùng với hai hợp lưu là sông Missouri và Red Rock dài 3741 ml hay 6019 km, đứng thứ 4 trên thế giới, sau sông Nile (Bắc Phi-6671 km), Amazon (Nam Mỹ-6300km) và Dương Tử (Trung Cộng-6276km) . Sông chảy từ bắc xuống nam phân chia nước Mỹ làm hai phần, phù sa bồi đắp tạo nên hai tiểu bang mang tên của nó ‘ Mississippi và Missouri ‘.Gọi Hoa Kỳ là một quốc gia trong một lục địa, thật không ngoa chút nào vì sự đa dạng của nó. Nhiều làng xóm khu phố được thiết kế gần như đất tổ của di dân, chẳng hạn như thành phố Quincy (50.000 dân) có nhiều biệt thự kiến trúc theo kiểu Ðức nằm giữa những vườn cây cổ kính. Trong lúc đó ở Alexandria là thành phố nằm cạnh sông Potomac, kế thủ đô Washington thì xây cất theo lối Anh Cát Lợi với tường gạch màu huyết dụ
Ðối với các tổng thống Mỹ khi còn tại chức thì sống trong tòa Bạch Ốc tại Hoa Thịnh Ðốn. Ðây là một tòa nhà đồ sộ có tới 132 phòng, 35 nhà vệ sinh, 3 tháng máy và tất cả những tiện nghi vật chất dành cho các bậc đế vương. Nhưng khi mãn nhiệm thì mạnh ai lo nấy, chẳng hạn như cựu TT Jimmy Carter về sống tại căn nhà riêng của mình mua trả góp từ năm 1960. Nhà của ông nằm kế thị trấn Plaince, tiểu bang Georgia . Ông sống đời giản dị, trong nhà không sắm đồ gì quý báu xa xỉ, còn những vật dụng thường nhật thì tự tay mình làm. Tuy tuổi tác đã cao nhưng TT Carter vẫn hoạt động xã hội không ngừng, để giúp cho những người nghèo, già và tàn tật bất hạnh.
Ðối với TT Ronald Reagan lúc còn sinh tiền, khi tại chức Thống đốc CA và Tổng thống, ông sống trong công thự. Năm 1989 mản nhiệm kỳ ông mua một căn nhà tại thành phố thượng lưu Bel Air thuộc tiểu bang California . Ngôi nhà là một dinh thự nhưng cất theo kiểu thôn quê với 3 phòng ngủ, 4 lò sưởi, 5 nhà vệ sinh và một hồ tắm. Còn TT Bush cha thì về lại cố hương ở Kennebunkport thuộc tiểu bang Maine nằm trên bờ Ðại Tây Dương. Ðây là căn nhà của tổ phụ đã xây dựng từ năm 1902 và được xây dựng thêm nhiều công trình như hồ tắm, sân golf, sân tennis, nhà dành riêng cho khách và một cây cầu nhỏ bắc trên bờ biển. Thú vui của TT Bush là câu cá, đánh golf, lái cano và cầu nguyện trong thánh đường.
Nhưng tệ nhất là cựu TT Bill Clinton. Khi còn tại chức thống đốc Arkansas và TT thì sống trong công thự. Năm 2001 về hưu sống tại ngôi nhà trị giá 1,7 triệu USD tại thành phố Chappaquq tiểu bang New York . Nhà này xây từ năm 1889 có 5 phòng ngủ, 4 phòng tắm, hồ bơi và chuồng ngựa.. Tháng 2-2001 vụ bê bối của Clinton bị bật mí và được báo chí khai thác tùm lum. Thế là bà vợ nổi tam bành, đã quăng hết đồ đạc và đuổi cựu tổng thống hào hoa ra khỏi nhà. Năm 2008 bà Clinton ra ứng cử tổng thống, sau đó trở thành ngoại trưởng của tổng thống Obama từ tháng 1-2009 tới nay, nên hai vợ chồng lại làm lành như trước.
Cuối cùng, tìm hiểu về nước Mỹ mà không nhắc tới chốn thần tiên cực lạc không đâu bằng. Ðó là đảo quốc Hạ Uy Di, tiểu bang thứ 50 của Hiệp Chủng Quốc từ năm 1959. Ða số người Mỹ hay du khách ngoại quốc đều ao ước tới Honolulu để nghĩ hè, tắm biển hay hưởng tuần trăng mật, cho dù đây là địa phương có giá sinh hoạt đắt đỏ nhất nước. Tới Honolulu để thăm lại di tích lịch sử về trận hải chiến giữa Mỹ-Nhật ngày 7-12-1941 tại Pearl Harbor mà xác của chiến hạm Arizona vẫn còn nằm yên trong vùng biển Thái Bình Dương, như là nhân chứng của thảm họa chiến tranh, qua cái chết của gần 4000 chiến sĩ đã hy sinh vì nước. Người Việt tị nạn Việt Cộng đã có mặt tại đảo quốc sau tháng 5-1975 khi VNCH bị sụp đổ. Ða số sống bằng nghề lái taxi, làm công nhân khách sạn, đồn điền mía thơm, đánh cá và buôn bán đủ ngành. Ở đây dời sống thật giản dị hiền hòa, du khách lẫn ngưởi bản địa ai cũng thoải mái trong cách ăn mặc, theo truyền thống Hawaii .
Trước năm 1974, New York có Tòa nhà cao nhất thế giới. Ðó là Empire State Building với 102 tầng, cao 443m, nằm trên Ðại lộ thứ 5 , giữa khu thương mai Manhattan. Ðược hoàn thành bởi các kiến trúc sư Shreve, Lamb và Harnon, thiết kế theo kiểu cách Art-Déco năm 1930. Những bộ phim ghê rợn loại King Kong được thực hiện tại đây.
Từ sau khi Hai Tháp của Tòa Nhà World Trade Center bị 19 tên khủng bố Hồi giáo cực đoan dánh bom tự sát bằng máy bay, vào ngày 11-9-2001, làm chết gần 7000 người và sụp đổ toàn diện, thì Empire State Building lại trở thành tòa nhà cao nhất nước Mỹ. Ðây là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước, khi tới thăm viếng thủ đô tài chánh vủa Hoa Kỳ, với những cảm giác mạnh , khi đứng trên hai đài quan sát tại tầng số 86 và 102., với hệ thống thang máy chuyển động rất nhanh. Ðài quan sát có song sắt bảo vệ ở phía ngoài,để tránh những tai nạn đáng tiếc. Nơi này cũng cấm hôn hít với lý do là nụ hôn sẽ tạo nên hiện tượng điện giật làm chết người. Từ đây du khach có thể chiêm ngưởng được toàn cảnh thành phố, trong phạm vi 120 km khi trời tốt, bằng không từ trên nhìn xuống chỉ thấy mây trắng mịt mùng, khói sương lãng đảng, khiến cho ta có cải cảm giác như đang sống trong ở cõi trên, quên đời quên tất cả.
Theo thống kê, tính từ ngày được khánh thành vào năm 1931 tới nay, đã có hơn 80 triệu du khách tới thăm viếng tòa nhà nổi tiếng này, được xếp vào kỳ quan thứ 8 của thế giới,tốn hết 60.000 tấn thép, 1860 bậc thang dẫn từ dưới đất lên tới đỉnh ở tầng 102, hơn 5000 km đường dây điện thoại, 96 km đường ống dẫn nước và 6500 cửa kính, được lau chùi thường xuyên.
New York có Rockerfeller Center , gồm 19 tòa cao ốc của tỷ phú Rockerfeler chuyên về thương mại, giải trí và buôn bán bất động sản. Ở đây còn có Viện Bảo Tàng Guggenheim là công trình xây dựng của Kiến trúc sư nổi tiếng nhất nước Mỹ và thế giới là Frank Lloyd Wright. Còn có Trung tâm tài chánh chứng khoán thế giới Wall Street, nằm trong một dãy phố hẹp, cổ kính New York Stock Exchange (Thị trường chứng khoán NY), được hình thành từ năm 1792, từ 24 Hội viên lên tới 1300 ngày nay. Trên Ðại lộ Broadway náo nhiêt, còn có Trung tâm kịch nghệ nỗi tiếng, thường trình diễn những tác phẩm nổi tiếng của thế giới. Trụ sở Liên Hiệp Quốc một trong những điểm thăm viếng của du khach, nay cũng được hạn chế tối đa để đề phòng khủng bố , sau ngày 9-11-2001
 
Viện Bảo Tàng Guggenheim

Nhưng niềm tự hào của người dân New York nói riêng và nước Mỹ, vẫn là Tượng Nữ Thần Tự Do, tay cầm ngọn đuốc sáng, để soi đường dẫn lối , cho các đoàn tàu vượt Ðại Tây Dương vào Hải Cảng New York.
Hoa Kỳ là thế đó, nên bất cứ ai cũng ao ước được ghé cổng thiên đường, cho dù mặt thật của nó “ thấy vậy mà không phải vậy “.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 11-2010
MƯỜNG GIANG

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Trại Giam Tù Binh Cộng Sản Tại Đảo Phú Quốc Có Thực Là Một Địa Ngục Trần Gian?

Trên trang báo điện tử Việt Báo trong nước có bài viết tựa là: Phiên tra tấn của tên cai ngục tàn ác nhất lịch sử VN (trích từ báo in Tuổi Trẻ Thủ Đô) số ra ngày thứ Bẩy 29-5-2010 nói về sự tàn ác của cai tù Quân Cảnh miền Nam VNCH với các tù binh Cộng Sản (bao gồm Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam) trong thời gian còn chiến tranh trước ngày 30-4-1975. Những đòn tra tấn như " nhổ răng, lấy mắt cá chân, tẩm đốt dương vật, luộc người trong chảo nước sôi... ". Một cai tù trong bài được viết nhiều nhất có tên là Bẩy Nhu (tên thật là Trần Văn Nhu, cấp bậc Thượng sĩ Quân Cảnh) ngoài các đòn tra tấn như dùng chày đập vỡ đầu gối hoặc đóng đinh vào cơ thể tù binh Cộng Sản thì cai tù Bẩy Nhu còn có một đặc sản riêng là đục răng tù binh Cộng Sản. Bẩy Nhu đã đục lấy 9 cái răng của một tù binh Cộng Sản tên là Vũ Minh Tằng. Trang báo còn kể thêm: Có khi, hứng lên là quân cảnh " nã "vài quả cối, khênh 80 xác tù nhân đi.


Đường link của bài viết trong trang Việt Báo.



Trong một phóng sự nhiều kỳ, một tác giả khác trong nước tên là Phạm Thị Thao Giang (hay Thảo Giang) còn mô tả 24 ngón tra tấn như: Dùng ván và đinh ốc ép cho vỡ lồng ngực tù nhân đến dùng kìm rút móng chân móng tay, dùng giẻ tẩm dầu đốt cháy... dương vật, dùng cây sắt nhổ dần từng chiếc răng chính trị phạm; thậm chí cả móc mắt hoặc dùng bóng điện lớn để gần mắt cho đến khi mắt chín nổ " đòm đọp " mới thôi, luộc phạm nhân trong chảo nước sôi cho các bạn tù chiêm ngưỡng...

http://www.datviet.com/threads/18522...9;m-phật

Đường link bài viết của tác giả Phạm Thị Thao Giang
.


Tác giả bài viết này (PTV) không có ý định viết hẳn về trại giam tù binh Phú Quốc (cũng như các trại giam tù binh khác trong đất liền hoặc nhà tù Côn Đảo) thời miền Nam VNCH mà chỉ nhằm góp một nhận xét cá nhân về các bài viết (của các tác giả trong nước) liên quan đến trại giam tù binh Phú Quốc cũng như các Quân Cảnh VNCH coi tù. Có thực trại giam tù binh Cộng Sản ở Phú Quốc là một địa ngục trần gian và Quân Cảnh VNCH (trường hợp Thượng sĩ Trần Văn Nhu trong bài) độc ác như các tác giả trong nước đã viết hay không? Tác giả cũng đã gặp mặt hai cựu binh Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH (thuộc tiểu đoàn 8 và tiểu đoàn 14 Quân Cảnh), là những người từng gác tù Cộng Sản Việt Nam tại đảo Phú Quốc (trong những năm đó) khi tạm dung tại trại tị nạn Galang-Indonesia. Những người nầy kể là chính quyền miền Nam VNCH rất tôn trọng Công Ước Geneva về tù binh. Chính quyền miền Nam VNCH luôn đối xử nhân đạo với tù binh (vì họ nghĩ Cộng Sản Bắc Việt hay Việt Cộng miền Nam cũng là người Việt Nam) và thực sự có cả một chương trình chiêu hồi tù hàng binh Cộng Sản về với chính nghĩa Quốc Gia nữa. Đến cuối cuộc chiến tranh, đã có trên 200.000 (hai trăm ngàn) Việt Cộng miền Nam và Cộng Sản Bắc Việt ra chiêu hồi với chính quyền miền Nam VNCH. Chính quyền miền Nam VNCH khi đó ngoài tình dân tộc ra thì còn bị thêm một áp lực của người Mỹ là phải đối xử thật tốt với tù binh Cộng Sản (vì chính quyền Mỹ sợ Cộng Sản Bắc Việt sẽ xử tệ với tù binh phi công Mỹ của họ). Những cựu Quân Cảnh đó đã kể cho người viết bài nghe là: Tù binh Cộng Sản tại Phú Quốc không hề bị buộc phải đi lao động chết người như họ đã đối xử với tù học tập cải tạo sau nầy (sau khi phía Cộng Sản chiếm được toàn bộ miền Nam VNCH). Phú Quốc là một hòn đảo, do đó nguồn thức ăn chính là cá biển và tù binh Cộng Sản đòi hỏi Ban Cải Huấn Trại phải cho họ ăn cá Ngừ, cá Thu hay cá Hường... Đây là những loại cá ngon thân nhiều thịt, ít xương. Khi nào nhà thầu mà cung cấp cho tù binh loại cá chỉ Vàng (ít thịt, nhiều xương) thì họ không chịu ăn, làm reo tuyệt thực. Tù binh Cộng Sản còn được chơi bóng chuyền, túc cầu (bóng đá) và học hành (tùy ý) trong trại nữa. Tù binh Cộng Sản đã lợi dụng việc được chính quyền miền Nam VNCH cho tự do học hành trong nhà tù nên đã học tập các Nghị Quyết của chính quyền Cộng Sản ở Hà Nội (trong cái gọi là Bộ Chính Trị) với nhau trong các sinh hoạt tổ đảng tại phòng giam. Ở nhà tù Côn Đảo, Phú Quốc (cũng như ở các trại giam tù binh Cộng Sản khác trong đất liền) tù Cộng Sản còn làm các nội san, tạp chí và phát hành rộng khắp trong nội bộ tù nhân. Mỗi năm đến dịp Tết, tù Cộng Sản còn được làm cả báo Xuân trong tù cho nhau xem nữa. Các trại tù binh Cộng Sản được chính bọn chúng coi là nơi để nghỉ ngơi (ca hát, vui chơi), học tập (như một trường đại học) chờ ngày được phóng thích. Có thì giờ nhàn rỗi ở không trong thời gian bị nhốt tù cùng sự nhân đạo của chính quyền miền Nam VNCH mà tù binh Cộng Sản mới có tinh thần thư thái (cùng phương tiện) để đan áo lạnh, thêu khăn tay tặng cho nhau nữa. Ta hãy xem các sản phẩm mà do chính các cựu tù binh Cộng Sản và Việt Cộng miền Nam nạp lại (để làm hiện vật chưng bày trong các cái gọi là nhà bảo tàng tố cáo tội ác của Mỹ-Nguỵ với các chiến sĩ ta (Cộng Sản và Việt Cộng miền Nam) như các hình dưới đây. Ngay cả sống trong mật khu thì các cán bộ, binh sĩ phe Cộng Sản cũng chưa chắc có kim, chỉ màu, vải và khung thêu mà làm ra các sản phẩm (gói ghém tình thương mến thương) để gửi tặng cho người thân như khi ở trong trại giam của chính quyền miền Nam VNCH.


Áo len của nữ tù nhân Nguyễn Kim Thuỳ (làm năm 1973 trong tù thuộc khu A, trại giam ở Hố Nai-Biên Hoà). Để ý hàng chữ trong hình: ...ngày ngày chúng tôi sinh hoạt, vui chơi, ca hát...








Thêu khăn, thêu áo trong tù rồi gửi về nhà để tặng cho con gái của các nữ tù nhân Đỗ Hữu Bích, Trần Hồng Nhựt (làm năm 1967) và (bé Tư) Phan Thị Lượm (làm năm 1973).



Tù Cộng Sản hoặc Việt Cộng miền Nam dù bị giam giữ ở đâu thì chúng đều âm thầm thiết lập hệ thống đảng ủy (mà có người gọi trại là đảng quỷ) để chỉ huy tất cả tù nhân ở trong trại (thực sự là kiểm soát người tù), để buộc mọi tù nhân phải học tập các chủ trương, chính sách, nghị quyết của bọn đầu lãnh chúng. Vì đâu mà tù Cộng Sản biết được các Nghị Quyết của Trung Ương Đảng ngoài Hà Nội? Đó là: Có những quân nhân miền Nam VNCH trong lực lượng Quân Cảnh đã làm tay sai cho tù binh Cộng Sản. Chính những cá nhân phản quốc nầy đã cung cấp lén lút cho tù binh Cộng Sản các phương tiện để họ lắp ráp được máy radio trong tù rồi lén nghe đài phát thanh Giải Phóng và đài phát thanh Hà Nội. Tệ hơn nữa, những người ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản này đã lẻn vào phòng lưu trữ hồ sơ tù binh để đánh cắp rồi sao ra toàn bộ danh sách tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tại Phú Quốc khi đó và chuyển tài liệu nầy cho Việt Cộng nằm vùng trong số cư dân sinh sống trên đảo. Sau đó, bản tài liệu nầy đã được chuyển ra miền Bắc cho nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội rồi được chuyển đến tận bàn Hoà Đàm Paris năm 1973 để làm áp lực, buộc chính quyền miền Nam VNCH phải thả toàn bộ số tù binh của phía Cộng Sản. Sau ngày 30-4-1975, các tác giả trong nước vẫn luôn rêu rao về chuyện bản danh sách này, cho đó là một chiến công của người tù Cộng Sản và kết luận nếu không có bản danh sách kể trên thì chính quyền miền Nam VNCH sẽ ém nhẹm (dấu) không trao trả một số tù binh tại Phú Quốc. Thực tế, trong thời gian trao trả tù binh, chính phía Cộng Sản mới là phe cố tình ém nhẹm không chịu trao trả những người tù biệt kích (đã nhẩy dù xuống miền Bắc hoạt động rồi bị bắt). Họ chối là không hề bắt được người nào. Và, ngay cả một số rất đông quân nhân miền Nam VNCH bị bắt trong chiến dịch Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971 (phía Cộng Sản gọi là chiến dịch đường 9 Nam Lào) cũng không được họ trao trả (chiếu theo điều 8 (a), chương VI của bản Hiệp Định Paris). Chính Hoàng Anh Tuấn (Thiếu tướng, đại diện Cộng Sản Bắc Việt) và Võ Đông Giang (Đại tá, đại diện Việt Cộng miền Nam) trong các buổi họp 4 bên ở trại Davis (trong phi trường Tân Sơn Nhứt) đã ráo hoảnh, chối bai bải không hề bắt được bất kỳ quân nhân miền Nam VNCH nào trong các trận đánh tại Lào. Họ giả tảng làm như mới nghe nói (lần đầu tiên) về tù binh miền Nam VNCH bị bắt tại Lào và giở bài trây, nói sẽ liên lạc với các lực lượng vũ trang Pathet Lào để " can thiệp " trả tự do cho các tù binh này. Những tù binh miền Nam VNCH kể trên, kể cả một sĩ quan rất nổi tiếng là Đại tá Nguyễn Văn Thọ (nguyên tư lệnh Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù) đã phải tiếp tục sống cuộc đời tù đày thêm nhiều năm sau ngày 30-4-1975. Dù là khi vừa mới bắt được viên sĩ quan này, báo chí phía Cộng Sản Bắc Việt đã viết rất nhiều về ông.


Đường Link về tù Cộng Sản làm báo trong nhà giam Côn Đảo.



Thời gian đó ở đảo Phú Quốc, người Mỹ cũng đã từng cài gián điệp trong vai một tù binh cán binh Cộng Sản Bắc Việt hoặc Việt Cộng miền Nam để dò la tung tích bọn đầu lãnh Cộng Sản trong trại (đảng ủy) hoặc muốn biết tình hình sinh hoạt nội bộ (như các âm mưu vượt trại) để phòng ngừa, ngăn chận. Lâu lâu, ta nghe có một vài tù binh bị bạn đồng tù Cộng Sản giết chết bằng cách đâm xuyên chiếc đũa qua hai lỗ tai của người tù đó. Không ai biết nạn nhân đó có thực là gián điệp Mỹ (CIA) hay chỉ là một cán binh Cộng Sản mà đã bị đồng đảng phát giác có thái độ... chán chường, bi quan (lập trường chao đảo) hay hết muốn làm người chiến sĩ vô sản nên đã bị cái gọi là đảng ủy nhà giam Phú Quốc ra lệnh xử tử. Ta hãy so sánh, tù binh miền Nam VNCH trong thời gian bị phía Cộng Sản Bắc Việt hoặc Việt Cộng miền Nam nhốt tù khi đó cũng như sau này (sau ngày 30-4-1975) trong các trại gọi là học tập cải tạo. Những người làm tay sai (có tên gọi là ăng ten) cho quản giáo Cộng Sản coi trại, dù làm khổ, gây điêu đứng đồng đội, thậm chí vì lời báo cáo mà dẫn đến cái chết của bạn mình... nhưng vẫn không hề có vụ chiếc đũa đâm qua hai lỗ tai như trong các gian phòng giam giữ bọn tù binh Cộng Sản.



Tù Cộng Sản được ở trong các nhà cao, thoáng mát như vầy và có cả hệ thống nước trong sạch (từ bồn chứa trên cao) để tắm giặt nữa. Thật khác xa hoàn cảnh của người tù miền Nam VNCH sau này trong trại cải tạo của Cộng Sản.



Báo Xuân có tựa là Xây Dựng của tù Cộng Sản làm trong trại giam ở Côn Đảo.


Những cựu Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH nầy còn kể là có lần tù binh Cộng Sản tuyệt thực mê man thì chính các viên chức Mỹ đã đến tận nơi, để áp lực với Ban Cải Huấn Trại phải... thoả mãn các yêu cầu của tù binh Cộng Sản. Rồi còn phải nấu cháo gà (hai nồi khổng lồ như nồi nước lèo ở tiệm Phở) cho tù tuyệt thực ăn để chúng mau hồi sức nữa. Chính người cựu Quân Cảnh kể chuyện cho tác giả bài viết này (đã ở trong nhóm nấu cháo gà kể trên), khi hai nồi cháo nấu chín rồi, ông ta vì quá tức giận, nên đã bắc ghế, đứng trên đó và... đái thẳng vào hai nồi cháo gà cho bõ ghét.

Trong diễn đàn điện tử VTC News, tác giả Phạm Thị Thảo Giang ở bài viết có tựa: Đi tìm tên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam đăng trên trang báo điện tử Đất Việt về lời kể của các cựu tù binh Cộng Sản Bắc Việt khác với Bẩy Nhu (Thượng sĩ Quân Cảnh VNCH tên thật là Trần Văn Nhu) nói về hành động tàn ác của người cai tù chính quyền miền Nam VNCH này với các tù nhân như đục 9 cái răng của tù binh Cộng Sản Bắc Việt tên là Vũ Minh Tằng (bị đục trong tháng 12-1971). Theo lời kể trong bài viết, đục răng nào xong, Bẩy Nhu bắt nạn nhân Vũ Minh Tằng phải nuốt luôn vào bụng. Cựu tù binh Cộng Sản Vũ Minh Tằng này (đang sinh sống tại xã Vĩnh Hảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) đã đem 9 cái răng (bị Bẩy Nhu đục năm xưa) " hiến tặng "cho bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày (ở Phú Xuyên, Hà Nội).


Thực sự, cựu Quân Cảnh Trần Văn Nhu (Bẩy Nhu) có tàn ác đúng như trong các bài viết phổ biến trong nước không? Ta biết nay ông này đã già (83 tuổi), xa lạ với máy điện toán (computer), lại sống tuốt ở đảo Phú Quốc xa xôi thì làm sao biết được các bài viết về ông theo kiểu (cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử VN) trên các trang mạng điện tử và ở các trang blog. Chắc gì ông Bẩy Nhu đã làm các việc đó? Còn hình chụp của ông Bẩy Nhu hiện nay? Một người hàng xóm của ông Bẩy Nhu tên là Nam (cũng là một cựu Quân Cảnh VNCH coi trại giam) đã dặn kỹ càng, mua quà gì, nói thế nào, đừng nhắc tới cái gì, và muốn ghi âm, chụp ảnh (Bẩy Nhu) thì phải làm lén ra sao... Khi tác giả trong nước đến gặp ông thì lại hỏi ông về chuyện vô thưởng vô phạt khác nhưng khi về viết bài thì họ lại thêm vào các đoạn... đục răng. Mà nếu có ai đó (như họ hàng của ông chẳng hạn) nói cho ông biết về các bài báo đã viết về ông. Ông muốn cải chính tin... xạo, láo lếu đó. Giả dụ như vậy đi thì tờ báo nào trong nước sẽ đăng bài ông cải chính? Đọc lại các bài viết trong nước về ông, ta thấy đều có câu (rào trước): Bây giờ ông Bẩy Nhu sống ẩn dật... lánh đời... không bao giờ chấp nhận gặp một ai nữa đâu. Viết vậy, khác gì bảo: Thôi! Ai đó thực lòng muốn kiếm ông Bẩy Nhu để hỏi (có thực ông đã tàn ác như vậy không) cũng phải nản lòng vì ra được đảo Phú Quốc đã xa mà ông ta lại... lánh đời nữa. Sao mà gặp được!




Cặp áo gối thêu tay của nữ tù nhân Trương Mỹ Hoa (làm năm 1969 tại trại giam Thủ Đức).


Tại sao cựu tù binh Phú Quốc tên Vũ Minh Tằng còn giữ được 9 cái răng? Một câu chuyện ly kỳ? Vẽ ra cảnh người tù Cộng Sản trung kiên và cai tù Quân Cảnh chính quyền miền Nam VNCH tàn ác. Người cựu tù binh này kể: " Tôi đã " phục kích " nhiều ngày, bới các đống phân của mình trong chuồng cọp biệt giam, để tìm và giữ bọc răng đó suốt hơn 30 năm ròng, sau khi tên cai ngục kia đánh gẫy của tôi, bắt tôi nuốt vào bụng mình toàn răng và máu... ". Chuyện của cựu tù binh Cộng Sản Bắc Việt tại Phú Quốc năm xưa kể nghe có vẻ thật, hùng tráng quá chứ! Có thực câu chuyện đã xẩy ra như vậy hay đơn thuần chỉ là một chuyện xạo, dựng đứng, nổ (như pháo). Ta hãy nhìn tấm hình chụp 9 cái răng của ông Vũ Minh Tằng kèm theo trong bài viết này. Tất cả đều trông giống răng hư được các nha sĩ nhổ ở các phòng nha hơn là răng bị một vật cứng là đồ nghề chạm khắc thủ công mỹ nghệ (theo lời kể của các cựu tù binh Cộng Sản khác). Và, điều này mới quan trọng, đã lật tẩy cái xạo của tù binh Cộng Sản Bắc Việt tên Vũ Minh Tằng. Đó là: Răng người hoàn toàn bằng chất vôi và khi nằm trong bụng, chất acid trong dịch vị của bao tử sẽ nhanh chóng tiêu hủy chúng mất tan. Chất vôi cũng là một chất mà cơ thể cần. Đúng ra, vôi cũng là một loại thực phẩm. Ai trong chúng ta cũng có lần đã từng nuốt xương cá, xương nhỏ của động vật (gà, heo) trong khi ăn và có bao giờ thấy những mẩu xương này còn tồn tại khi cơ thể bài tiết ra ngoài. Luôn rêu rao bị cai ngục Quân Cảnh miền Nam VNCH bỏ đói thì bụng lấy đâu có thức ăn hay nói nôm na: Ruột làm gì có phân mà ỉa ngay. Càng nằm lâu trong bụng thì chất vôi càng bị tiêu hóa nhanh, nhất là với những cái bao tử rỗng, đói. Đó là nói về lý. Còn về tình thì liệu một người là tù binh trong hoàn cảnh chiến tranh, ranh giới cái chết và sống chỉ trong gang tấc, biết ngày mai đời mình ra sao mà lưu trữ từng cái răng một để mà có ngày... nạp lại cho nhà bảo tàng làm... chứng tích tố cáo? Và, nếu thực sự cai tù Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH đối xử với tù binh Cộng Sản quá ác độc như lời rêu rao thì các cai tù (cựu Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH ngày ấy như Bẩy Nhu, ông Nam) khi phe Cộng Sản chiếm được toàn miền Nam VNCH rồi thì họ đã không dám sống ở hòn đảo Phú Quốc (và phải cao bay xa chạy chứ) cho đến tận bây giờ để cho các tác giả trong nước (như Phạm Thị Thảo Giang) tìm đến, mà hỏi mà viết bài láo lếu như trên. Quân Cảnh của chính quyền miền Nam VNCH phải đối xử với tù binh Việt Cộng miền Nam và Cộng Sản Bắc Việt rất có tình người thì họ mới dám ở lại Phú Quốc sau ngày 30-4-1975. Họ chỉ cần đối xử hơi tệ một chút thôi thì ít nhiều cũng bị chính quyền mới bắt đi học tập cải tạo (thực sự là ở tù, lao động nặng) rồi. Đối chiếu với thực tế, ta thấy có nhiều người không hề gây nợ máu (nợ máu là nói theo cái nhìn của người bên phía Cộng Sản), chỉ thuần là một sĩ quan quân đội cấp thấp của chính quyền miền Nam VNCH (sống ở vùng đất do bên nào kiểm soát theo Hiệp Định Geneva 1954 thì phải đi lính cho chính quyền đó) mà khi bị chính quyền mới sau ngày 30-4-1975 bắt đi học tập cải tạo (thực chất là đi tù cấm cố, lao động chết bỏ) còn bị đám cai tù (quản giáo Cộng Sản) hành hạ, thậm chí còn giết bỏ, vùi xác ở chốn hoang vu và không cho thân nhân biết tin.


9 cái răng và cựu tù binh Vũ Minh Tằng khi đem hiến.



Cai ngục Bẩy Nhu (Trần Văn Nhu)



Chuyện 9 cái răng của cựu tù binh Vũ Minh Tằng cũng... ly kỳ như chuyện một lá cờ Đảng Cộng Sản được nhiều tù binh nuốt vào bụng và lấy ra bằng sợi dây buộc sẵn để không rơi vào tay giặc (ám chỉ Quân cảnh miền Nam VNCH coi tù). Bạn đọc có thể tin chuyện bảo vệ lá cờ như kiểu... thần thoại trong bài viết dưới đây không?



Một thực tế không ai có thể chối cãi được để biết chính quyền miền Nam VNCH có tàn ác với tù binh Việt Cộng miền Nam và Cộng sản Bắc Việt hay đối xử tốt với họ đó là: Khi thi hành Hiệp Định Paris 1973, phía chính quyền miền Nam VNCH đã dùng máy bay vận tải C123, C130 chở các tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam đến trao trả cho đồng bọn tại Lộc Ninh và ở bờ sông Thạch Hãn. Tù binh phe Cộng Sản khi đó, trước sự quan sát của Ủy Ban Liên Hợp Quốc Tế (ICCS), người nào người nấy cũng đều đủ 4 tiêu chuẩn cơ thể: To-Bền-Béo-Khoẻ như trong các tấm hình dưới đây. Trái lại, các tù binh thuộc phía chính quyền miền Nam VNCH được phía Cộng Sản trao trả thì hầu hết đều bị chính quyền miền Nam VNCH buộc lòng phải cho người đó giải ngũ về làm dân thường luôn vì họ... nhìn không ra là người nữa (bất khiển dụng). Hình ảnh người tù trở về gia đình từ nhà giam Cộng Sản trong các năm tháng đó đã được lập lại trong các trại tù cải tạo sau ngày 30-4-1975. Độc ác như Cộng Sản Việt Nam thì luôn luôn nghĩ những người khác chiến tuyến cũng độc ác như chúng. Thói đời là vậy.

Sống trong " Địa Ngục Trần Gian " mà thân thể cán binh CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam ngon lành như dưới đây sao? Ta hãy nhìn xem:



Hình trao trả tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tại bờ sông Thạch Hãn. Mỗi tù binh được chính quyền miền Nam VNCH phát quần áo đàng hoàng (còn sang, đẹp hơn công nhân đi lao động hợp tác hay du sinh đi du học ở các nước XHCN Đông Âu trước đây) và còn được tặng kèm theo cả một túi quà. Để ý lực lượng Quân Cảnh miền Nam VNCH đội mũ sắt có sơn 2 chữ QC.
 



Hình trao trả tù binh CS Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tại phi trường Lộc Ninh. Người nào yếu, đi lại khó khăn thì chính quyền miền Nam VNCH cấp cho cả nạng gỗ trợ giúp.








Đón các anh từ nhà tù Mỹ-Ngụy (địa ngục trần gian theo tuyên truyền của tác giả Phạm Thị Thảo Giang, cựu tù Vũ Minh Tằng) tại bờ sông Thạch Hãn. Anh trai tù binh nào cũng dư sức để tham dự hội khỏe Phù Đổng.


Khi nhận lại được một số tù binh khoẻ mạnh như vậy. Bọn đầu lãnh Cộng Sản Hà Nội khi đó (trong cái gọi là Quân Ủy Trung Ương), cấp trên của Việt Cộng miền Nam (Mặt Trận Giải Phóng hay cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sau này) đã nhanh chóng bổ sung thành các sư đoàn (phiên hiệu F) góp phần cho phần thắng của phía Cộng Sản trong ngày 30-4-1975 tại chiến trường miền Nam VNCH và để khởi đầu cho chuỗi đau thương của toàn bộ đất nước Việt, con dân Việt cho đến tận ngày hôm nay.

Trong các tấm hình kèm trên đây, có một điều lạ là tại sao các tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam lại... cởi trần chỉ quần đùi-tà lỏn khác với tấm hình ăn mặc chải chuốt ở trên hoặc thuần một mầu nâu đỏ ở dưới. Một cựu quân cảnh miền Nam VNCH mà tác giả bài viết đã gặp có tên Đoàn C Hậu (thuộc Tiểu Đoàn 7 Quân Cảnh). Ông này kể về chuyện đi áp giải tù binh từ Phú Quốc đến phi trường Lộc Ninh và bờ sông Thạch Hãn năm đó. Cho biết khi phi cơ vừa hạ cánh, tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam vội vã cởi bỏ quần áo và vứt bỏ gói quà mà họ vừa được chính quyền miền Nam VNCH phát tặng. Sau này, vịn vào các tấm hình trên, nhiều tác giả phía Cộng Sản đã phịa chuyện: Chính quyền Sài Gòn khi trao trả các chiến sĩ ta (tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam) chỉ có độc một quần đùi, chân không. Thực sự, chuyện tù binh Cộng Sản cởi bỏ quần áo được chính quyền miền Nam VNCH cấp phát tại địa điểm trao trả nó không lạ nếu như ta ngược dòng lịch sử trở về thời gian trước đó gần 20 năm trong những lần trao trả tù binh giữa quân đội Liên Hiệp Pháp và lực lượng Việt Minh (sau trận Điện Biên Phủ) để biết tại sao những tù binh Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam phải vất bỏ quần áo cùng quà tặng của phía chính quyền miền Nam VNCH. Hơn 10.000 (mười ngàn) chiến binh quân đội Liên Hiệp Pháp bị bắt làm tù binh lúc thất trận tại Điện Biên Phủ, chỉ có 3290 trở về. Còn lại 7801 người kia số phận ra sao, không ai hay biết? Có thể họ chết vì thiếu ăn và bệnh tật trong các trại giam của Cộng Sản? Và ngược lại, một số tù binh Việt Minh được phía quân đội Liên Hiệp Pháp thả về thì mạnh khỏe, to béo, mặc đồ của Sở Hành Chính-Tài Chính do người Pháp phát. Trên xe trở về, các tù binh Việt Minh cởi quần áo vứt bỏ (chỉ mặc một cái quần đùi) và ném trả lại đồ ăn như bánh mì. Trong những tù binh Việt Minh, có một người tên là Nguyễn Chuông, khi đó nguyên Tiểu đoàn trưởng thuộc Đại đoàn 312 (sau này ông ta leo tới cấp tướng). Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC, ông ta cho biết bản thân là cấp chỉ huy Việt Minh cao cấp nhất bị Pháp bắt. Thời gian ở tù, ông ta được một linh mục tuyên úy Pháp giúp đỡ và ủy lạo và được người Pháp đối xử tử tế. Nhưng ông nói, khi ông trở về thì gặp vất vả từ phía đồng đội của ông. Ông bị ngưng chức, ngưng sinh hoạt đảng... Mãi sau này, ông ta mới được phục hoạt chức vụ. Sau này ông ta là Tư lệnh Sư đoàn (sư trưởng) quân đội Cộng Sản Bắc Việt khi giao tranh với Sư đoàn 5 BB quân đội miền Nam VNCH.

Đường link bài viết về trao trả tù binh giữa quân đội Liên Hiệp Pháp và lực lượng Việt Minh ở thời điểm năm 1954.


 


Tù binh Cộng Sản nào còn chần chừ (hay tiếc của) chưa chịu cởi bỏ quần áo, khăn che đầu... thì vô tới trong rừng sâu cũng sẽ bị các anh đằng mình bắt phải trút bỏ ngay.


Thêm một việc mà qua đó đã tố cáo những láo lếu về cái gọi là chính nghĩa của phía Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam là: Trong số tù binh Cộng Sản ở đảo Phú Quốc khi được chính quyền miền Nam VNCH trao trả tự do, có một số người tù lại không chịu quay về với đơn vị cũ, với Đảng và với các đồng chí mến yêu cùng rừng núi âm u, cùng với cái gọi là " chính nghĩa Cộng Sản " nữa. Trong lúc chờ được trao trả cho các đồng chí " vô vàn mến yêu " tại phi trường Lộc Ninh, những tù binh này đã lợi dụng cơ hội có mặt nhân viên Ủy Ban Liên Hợp Quốc Tế (ICCS) và chính quyền miền Nam VNCH, họ đã cương quyết xin được cho hồi chánh tại chỗ luôn. Những tù binh này muốn được hít thở cái không khí tự do của xã hội miền Nam VNCH. Tiếc thay, thời gian hạnh phúc đó của họ không kéo dài được lâu. Không chịu " xum hợp " với các đồng chí đằng mình, những người này chắc đã: Không ai biết rõ tâm địa bọn Cộng Sản bằng những người đã từng ở trong hàng ngũ của chúng, nên phải tránh.


Hình tù binh Cộng Sản xin chọn ở lại làm công dân chính quyền miền Nam VNCH. Để ý hàng chữ ở bích chương: Quyết không về với Cộng Sản. Thà chết ở miền Nam.


Vấn đề cần để ý sau cùng là: Tại sao trong quãng thời gian khoảng 10 năm trở lại đây ở trong nước lại nở rộ (bắt chước theo) vụ các đảng viên Cộng Sản lập ra nhiều nhà bảo tàng để lưu trữ các hình ảnh chiến tích (rồi rêu rao là thần thánh) cùng các mẫu vật có liên quan đến người Cộng Sản trong thời gian chiến tranh của 2 miền Nam-Bắc. Nhất là có vụ đi sưu tập các di vật của các cựu tù Cộng Sản (ở trại tù binh Phú Quốc và Côn Đảo hoặc ở các trại giam tù binh khác tại miền Nam VNCH). Ta biết, lý tưởng Cộng Sản đã bị sụp đổ ngay tại nơi khai sinh ra nó (nước Nga) và ở Đông Âu trong đầu thập niên 1990. Ngày nay còn bao nhiêu nước trên thế giới theo chủ thuyết Cộng sản so với 192 nước thành viên Liên Hiệp Quốc? Ngày 25 tháng 1 năm 2006, tại thành phố Strasburg (Pháp), Hội đồng châu Âu (tiếng Anh: Parliamentary Assembly of the Council of Europe; tiếng Pháp: Assemblée parlementaire du Conseil de l'Europe), một cơ quan dân cử của 46 quốc gia châu Âu, đã có cuộc họp thường niên (bốn lần trong một năm) bỏ phiếu và thông qua (99 phiếu thuận, 42 phiếu chống) Nghị quyết 1481 (2006) với các điều khoản lên án chủ nghĩa cộng sản và đồng nhất chủ nghĩa này với tội ác chống lại loài người. Đó là thế giới, còn ở trong nước, ta thấy chính chế độ Cộng Sản là nguyên nhân làm cho xã hội băng hoại, chênh lệch giàu nghèo quá xa. Chính quyền Cộng Sản lộ rõ việc bất lực trong việc bảo vệ sự toàn vẹn đất nước và bảo vệ người dân (trong các vùng lãnh hải Việt), bao che cho cán bộ, đảng viên khi những người này tham ô, gây ra các việc ác (tiếp tục ngồi xổm trên luật pháp). Niềm tin năm xưa của người dân vào tấm gương (cho là xả thân, hy sinh vì đất nước) của chiến sĩ Cộng Sản càng ngày càng bị thui chột (thực tế là ngay cả các đảng viên Cộng Sản cao cấp (như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu...) cũng mất niềm tin vào lý tưởng Cộng Sản. Đảng viên Cộng Sản đang cầm quyền trong nước hiện nay (tức chính quyền) đối xử với người dân còn độc ác hơn cả thực dân Pháp trước đây. Chính vì biết người dân thù ghét nên mới có vụ cựu tù binh Cộng Sản lập nhà bảo tàng (do chỉ thị từ cấp ủy đảng) để nhằm mục đích tiếp tục đầu độc tâm hồn những người trẻ tuổi, lớn lên sau ngày 30-4-1975 về các chiến tích năm xưa. Nhằm biện luận rằng, những con người Cộng Sản kiên cường như vậy thì không thể nào là người xấu được. Đây là một hình thức mà người hiểu chuyện gọi là: Đảng, Chính quyền Cộng Sản đang ăn mày dĩ vãng của mình và lên dây cót (như trong bộ máy đồng hồ) tinh thần những người đang ở trong các đoàn thể như quân đội, công an. Vẫn biết là trong trận chiến nào thì kết cuộc sau cùng nếu hai phía không hoà thì cũng phải có một bên thắng và một bên thua. Cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam mình cũng vậy. Phe Cộng Sản đã thắng trong ngày 30-4-1975 (tác giả không bàn về lý do tại sao có cái chiến thắng đó) nhưng thiển nghĩ, người thắng trận phải làm sao (khi cai trị nước) để xứng đáng với cái chiến thắng mà mình có được. Ít ra là vậy.

Vậy, những hiện vật chưng bày trong các viện bảo tàng kiểu 9 cái răng của cựu tù binh tên Vũ Minh Tằng kể trên có đúng là các di vật thật mà người tù Cộng Sản lưu giữ được hay chỉ là vật mới được chế tác nhằm phục vụ cho đường lối tuyên truyền của Cộng Sản? Ta biết rằng, sau trận chiến Việt-Hoa (tháng 2-1979), hang Pắc Bó đã bị lính " Tung Của " phá sạch và vùng đất này đã rơi vào tay Tàu Cộng mà nay đã có một hang Pắc Bó khác (để phục vụ đồng bào) thì liệu những cái gọi là di vật cách mạng (cùng các câu chuyện... kể kèm theo) có được bao nhiêu phần trăm tính khả tín?

Đường link Nghị quyết 1481(2006) về Cộng Sản của Hội đồng Âu Châu.



Viết như vậy, nói theo ngôn ngữ kiểu người Hà Nội bây giờ là: Hơi bị láo đấy hoặc theo kiểu người miền Nam: Xạo thấy bà Cố luôn.

Phạm Thắng Vũ

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

CHỌN TỔ QUỐC VÀ NHÂN DÂN HAY ĐẢNG CỘNG SẢN?

Trong vũ trụ luôn có luật bão hòa để gìn giữ sự trường tồn của vũ trụ, cái cốt lõi của vũ trụ là âm và dương, trong âm có dương và trong dương có âm. Trong quốc gia không thể không có nhân dân và nhân dân không thể không có quốc gia.
Sự trường tồn của một đất nước là do nhân dân sống, làm và gìn giữ đất nước nơi họ sống, nói một cách khác, nhân dân nếu không quyết định được làm sao để gìn giữ đất nước thì dân tộc sẽ diệt vong và tổ quốc cũng không còn. Đất nước chúng ta trải qua rất nhiều thăng trầm đã chứng minh sức mạnh đoàn kết của toàn dân trong công cuộc đấu tranh cho sự trường tồn và bảo vệ đất nước.
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ xã hội, VN đã có những bước đi chập chững dò dẫm và tìm kiếm con đường tốt nhất cho đất nước và nhân dân. Mỗi một bước đi đó đã nhuộm đầy xương máu và nước mắt của đồng bào và các anh hùng tử sĩ đã đổ ra. Kiến thức và nhận thức là điều quan trọng để xây dựng và tránh bớt đổ máu cũng như hoang phí sức người và sức của để rồi lại quay về lại chốn cũ.
Chủ nghĩa cộng sản đã không còn tồn tại nơi chính nó đã sinh ra và phát triển, cuối cùng cũng chính người dân của họ đã quyết định chôn nó vào dĩ vãng.
Có phải chăng kiến thức khoa học và kinh tế của Nga không tiến bộ để nhân dân đó hủy bỏ đảng cộng sản? Về mặt khoa học và kỹ thuật, nước Nga có một sự tiến bộ thuộc vào nhất nhì trên thế giới.
Vậy thì do đâu? Có phải là do sự sống và dân quyền đã làm cho người Nga hủy bỏ đảng Cộng sản tại đất nước này? Chủ nghĩa cộng sản đã không thích hợp với sự phát triển về quyền tư hữu và dân quyền, người dân không có quyền đóng góp xây dựng trên căn bản công bằng và tự do, đất nước được lèo lái của đảng Cộng sản Nga.
Những người cộng sản và nhân dân Nga đã chiến đấu bảo vệ đất nước trước sự xâm chiếm của Đức quốc xã. Họ đã hy sinh rất nhiều để bảo vệ tổ quốc của họ, điều đó không ai chối cãi được. Đảng CS Nga vào năm 1986 có 19 triệu đảng viên đảng, chiếm khoảng 10% dân số trưởng thành, có hơn 44% trong giới công nhân kỹ nghệ và 12% trong giới nông nghiệp. Thế nhưng tại sao đảng Cộng sản Nga lại tự hủy bỏ chính mình, tự hủy bỏ bao nhiêu công lao của họ trong quá khứ? Phải chăng đây chính là điều yêu nước thật sự của người Nga?
Những người Cộng sản Nga yêu tổ quốc chính là những người dân Nga. Họ đã chọn lựa đất nước và nhân dân, nó không phải do chính đảng CS Nga chọn “lầm người kế vị” mà phải hiểu thật rõ là người kế vị cuối cùng của đảng CS Nga là người yêu nước chân chính.
Không có một thế lực phương tây hay phương bắc nào có thể làm cho nhân dân thay đổi chế độ được nếu chế độ đó phục vụ hết sức cho nhân dân và cho tổ quốc. Sự chọn lựa là do nhân dân và dân tộc quyết định để chọn ai là người thay họ lèo lái đất nước, gìn giữ và bảo vệ cho dân tộc và tổ quốc.
Cái “nhân-quả” là cái gốc và ngọn của sự sai lầm hay thành công cho mai sau. Đảng CSVN là cái hậu quả của cái “nhân-quả” đã sai lầm của dân tộc chọn lựa, để rồi bây giờ lại quay về chốn cũ sau bao nhiêu hoang phí với bao nhiêu xác người đã phơi trên ruộng đồng, trên thành phố và mẹ già ngồi ôm xác đứa con… Đất nước tan hoang từng mảnh, nào là chia rẽ, nghèo đói, nào là người dân mang phận thấp hèn trên chính quê hương của mình và tổ quốc thì bị xâm lăng.
Họa TQ là một hiểm họa thật sự cho đất nước trải qua hàng nghìn năm cho đến tận bây giờ. Họa này to hơn ngày xưa gấp ngàn lần, bởi chúng ta đã ngủ quên trong lệ thuộc phương bắc. Giờ đây TQ đã quá trắng trợn hòng chiếm đoạt tài nguyên, lãnh hải và xâm nhập dưới mọi hình thức trên lãnh thổ của chúng ta. Chúng không từ một thủ đoạn hèn hạ nào để kềm ép và nô lệ hóa chúng ta.
Trong thì dân không yên lành, ngoài thì giặc xâm chiếm, đất nước đứng trước đại nạn đòi hỏi chúng ta, tất cả mọi người VN với lòng yêu tổ quốc phải có một cuộc cải tổ xã hội thật nhanh và mạnh trong “Diễn biến hòa bình” không đổ máu, cùng xây dựng một đất nước tự do dân chủ mới có thể giữ gìn được độc lập và gìn giữ đất nước vững mạnh trước quân thù.
Chúng ta có hai quân thù, một là quân thù trong chúng ta đó là bảo thủ, và hai là quân thù đang tìm đủ mọi cách chiếm đoạt.
Chúng ta bảo thủ vì sợ mất đi cái quyền lợi cho Đảng? Đảng chỉ là một cái tên, quyền lợi duy nhất của Đảng chính là tổ quốc và nhân dân. Tổ quốc không còn, nhân dân cũng không thì liệu còn Đảng hay không?