Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

VỀ HUYỀN THOẠI HỒ CHÍ MINH


-
“…Nếu không có Hồ Chí Minh và đảng cộng sản thì Việt Nam sẽ khá hơn hay sẽ kém hơn hiện nay?” thì chắc chắn tuyệt đại đa số người Việt sẽ có cùng một câu trả lời…”
Nhân ngày 19/5, cái gọi là ngày sinh nhật của ông Hồ Chí Minh do đảng CSVN sáng chế, chúng tôi xin đăng lại bài dưới đây dù đã đăng trên Thông Luận cách đây 18 năm để một lần nữa nhận diện một trong những huyền thoại nền tảng của đảng CSVN.
*
Đài “Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại” phỏng vấn tôi về ông Hồ Chí Minh nhân ngày sinh thứ 104 của ông. Sau nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu, đài này muốn cho thính giả nghe quan điểm của một người hoạt động chính trị về một nhân vật chính trị. Câu hỏi đầu tiên của ký giả Hồng Phúc làm tôi bối rối : “Xin ông cho thính giả biết những nét chính về nhân vật Hồ Chí Minh”. Nét đậm đầu tiên của ông Hồ Chí Minh là ông là một người lý lịch không rõ rệt.
Ngay cả ngày sinh của ông, 19/5/1890, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam dùng làm một ngày lễ, cũng không có gì chắc chắn. Ở những dịp khác nhau, chính ông Hồ Chí Minh đã khai những ngày sinh khác nhau, mặc dầu không có nhu cầu phải giấu giếm. Thí dụ như khi nộp đơn xin học Trường Thuộc Địa Pháp, ông khai là sinh năm 1892; sau đó ít lâu, trong hồ sơ gia nhập Hội Tam Điểm (Free Mason) ông khai ngày sinh là 15/2/1895. Cho đến một ngày rất gần đây mọi người vẫn đinh ninh rằng ông họ Nguyễn, tên Nguyễn Sinh Côn, sau đổi thành Nguyễn Tất Thành, con ông phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Thế rồi sử gia Trần Quốc Vượng đưa ra một giả thuyết mới theo đó ông thực sự họ Hồ, cháu nội ông Hồ Sĩ Tạo, và đã chỉ mang họ Nguyễn sau một thảm kịch gia đình: bà nội ông đã có thai với ông Hồ Sĩ Tạo dù ông này đã có vợ con, gia đình bà đã phải đem gả bà cho một ông đồ già họ Nguyễn, vì thế thân phụ ông đã mang tên Nguyễn Sinh Huy. Trần Quốc Vượng đưa ra những chứng cứ và biện luận khó phản bác.
Hồ Chí Minh đã sống thời niên thiếu như thế nào tại Việt Nam, đã làm gì tại Pháp và tại Nga, đã có thành tích và trách nhiệm nào trước và trong thời gian làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa? Ngay cả những tài liệu về Hồ Chí Minh do những người cộng sản kỳ cựu gần gũi với ông viết ra cũng đã mâu thuẫn.
Chính Hồ Chí Minh cũng đóng góp tích cực vào việc gây hoang mang và lẫn lộn về tiểu sử của ông. Ông dùng những bí danh T. Lan và Trần Dân Tiên để viết về mình một cách mơ hồ. Trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, ông Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh, thuật lại cảm giác bồn chồn sung sướng khi được “Hồ chủ tịch” tiếp và được ông Hồ Chí Minh trả lời như sau khi ngỏ ý muốn viết tiểu sử của ông: “Tiểu sử? Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ”. Câu chuyện này chứng tỏ Hồ Chí Minh là một người giả dối muốn đánh bóng tiểu sử của chính mình; đó là tâm lý của những người trong thâm tâm không hãnh diện về mình. Điều đáng ghi nhận là mặc dù đã bỏ ra rất nhiều thời giờ và công sức và dùng tới hai bút hiệu để viết về chính mình, một việc có lẽ chưa một nhà chính trị nào làm, nhưng cả hai hồi ký của ông Hồ Chí Minh đều không có một giá trị lịch sử hay chính trị nào cả, bởi vì chúng không đóng góp giải thích một sự kiện lịch sử nào mà chỉ là những mẩu chuyện nhắm mục đích ca tụng ông Hồ Chí Minh như một người tốt, tài giỏi, dũng cảm, có chí lớn, có quyết tâm, đáng ngưỡng mộ v.v. Hồ Chí Minh hoàn toàn không hiểu ý nghĩa và hậu quả của những biến cố lớn của một giai đoạn lịch sử trọng đại, trong đó ông là nhân vật chính; ông chỉ chú trong đến những chuyện vụn vặt về cá nhân mình. Đây là một điều đáng buồn cho cả ông Hồ Chí Minh lẫn dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã phá mọi kỷ lục Việt Nam về tiểu sử. Số sách và bài viết về ông đã gấp hàng trăm lần bất cứ nhân vật lịch sử Việt Nam nào. Tuy vậy bí ẩn về ông vẫn còn nguyên vẹn. Bài này vì vậy không phải là một đóng góp thêm về tiểu sử ông Hồ Chí Minh mà chỉ có mục đích nhận diện một trong những huyền thoại nền tảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam.
Có một số dữ kiện mà mọi người có thể đồng ý. Ông sinh vào khoảng 1890-1895 tại Nghệ An, mồ côi mẹ rất sớm, cha đậu phó bảng, làm quan đến chức tri huyện nhưng vì say rượu đánh chết người nên mất chức, bị tù, rồi lưu lạc vào Nam chết trong cô đơn và nghèo khổ. Hồ Chí Minh học hết tiểu học, đang học trường Quốc Học tại Huế thì phải bỏ học vì cha bị mất chức. Ông sống vất vưởng ở trong Nam, đặc biệt tại Sài Gòn vài năm, rồi đi làm phụ bếp trên một tàu buôn và tới Pháp năm 1911. Tại đây ông làm đơn xin vào học Trường Thuộc Địa, một trường đào tạo công chức cho chế độ thuộc địa Pháp ở Nantes, nhưng bị từ chối. Ông lên Paris sinh sống bằng nghề tô ảnh, gặp một số trí thức có tinh thần quốc gia trong đó có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và hợp tác với họ. Ông gia nhập Đệ Nhị Quốc Tế, rồi Đảng Cộng Sản Pháp, và được gửi đi Nga huấn luyện năm 1923. Cuối năm 1924 ông được cử làm thông ngôn cho phái đoàn Nga tại Trung Quốc do Borodin cầm đầu; do biến cố này mà sự nghiệp chính trị của ông trở thành gắn bó với Việt Nam. Ông trở thành đại biểu Đông Dương tại Đệ Tam Quốc Tế, đóng vai trò then chốt trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và trở thành lãnh tụ số 1 của đảng này từ khi thế chiến II bùng nổ. Ông lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tháng 8, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp và chống chính quyền Bảo Đại do Pháp yểm trợ, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève. Ông mất năm 1969, giữa lúc cuộc chiến tranh Nam Bắc đạt đến mức độ gây cấn nhất. Về đời tư ông có khá nhiều người tình và cũng đã có vợ, có con, nhưng ông giấu nhẹm những chuyện này. Một trong những người phụ nữ này là cô Nông Thị Xuân, có con với ông, đã chết trong một trường hợp bí ẩn, thân nhân quả quyết là đã bị thủ tiêu. Những sự kiện này được mọi nhà nghiên cứu nhìn nhận và cũng chưa hề bị Đảng Cộng Sản Việt Nam bác bỏ.
Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đặt nền tảng trên ba huyền thoại: chủ nghĩa cộng sản chủ trương giải phóng giai cấp vô sản và thiết lập một thế giới công bằng lý tưởng; cuộc chiến đấu oanh liệt thắng Pháp, thắng Mỹ đem lại độc lập và thống nhất đất nước; và thần tượng Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một mẫu mực về đạo đức, đồng thời cũng là một người giản dị, khắc khổ chỉ sống cho đất nước.
Mỗi huyền thoại có một công dụng riêng. Chủ nghĩa cộng sản là một cứu cánh, một biện minh sau cùng cho mọi hành động. Chiến công giành độc lập, thắng ngoại bang cho Đảng Cộng Sản Việt Nam một sự chính đáng lịch sử và, quan trọng hơn, tiêu biểu cho dụng cụ bạo lực sẵn sàng đập tan mọi chống đối. Thần tượng Hồ Chí Minh là đối tượng để ngưỡng mộ và kính phục và đem lại cho đảng sự chính đáng về mặt đạo đức. Ngày nay lý tưởng cộng sản không những đã sụp đổ mà còn bị lố bịch hóa. Nó chỉ được duy trì qua loa như vòng phòng thủ bên ngoài. Còn lại cặp bài trùng cố hữu và bắt buộc của mọi quyền lực : bạo lực và đạo đức. Bạo lực để đập tan mọi chống đối, đạo đức để đừng bị chống đối. Đảng cộng sản dùng bạo lực để áp đặt sự tôn sùng Hồ Chí Minh, ngược lại sự tôn sùng thần tượng Hồ Chí Minh, biểu tượng của đảng, có tác dụng triệt tiêu ý muốn chống đối và do đó cho phép tiết kiệm việc sử dụng bạo lực. Nếu một trong hai thành tố này không còn thì chế độ cộng sản không thể tiếp tục tồn tại.
Vậy thì Hồ Chí Minh là nhân vật như thế nào?
Một tranh cãi quen thuộc là Hồ Chí Minh có phải là một người yêu nước và nhân bản hay không? Sở dĩ câu hỏi này được đặt ra là vì Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như là chân dung của lòng yêu nước và đức hạnh, nhưng đây là một  tranh cãi phiến diện. Yêu nước là tình cảm tự nhiên của mọi người và ngay cả những kẻ phản quốc cũng yêu nước. Sự quyến luyến với phần đất mà mình sinh ra và lớn lên nằm trong phản xạ của mọi động vật, không cứ gì loài người. Vậy thì ông Hồ Chí Minh chắc chắn là có yêu nước. Cũng thế, những giá trị nhân bản có sẵn trong mọi người. Ngay cả những kẻ gian ác nhất cũng ưa chuộng sự lương thiện, sự thủy chung và lòng bao dung. Con người đã được cấu tạo như thế. Vấn đề thực sự đặt ra là trong hoàn cảnh khó khăn và trước hiểm nguy, lòng yêu nước và các giá trị đạo đức như tình bạn, tình yêu có trọng lượng nào?
Hồ Chí Minh đã thẳng tay thủ tiêu các lực lượng chính trị, dù là cộng sản đệ tứ, hay Đại Việt, hay Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông thừa biết là họ rất yêu nước, nhưng họ không thuộc đảng cộng sản của ông và do đó sự hiện hữu của họ đe dọa độc quyền lãnh đạo của ông.
Hồ Chí Minh biết bà Nguyễn Thị Năm là người vô tội, hơn thế còn là người tốt, đã giúp đỡ nhiều cho đảng cộng sản và có con trai đang là trung đoàn trưởng quân đội cộng sản. Ông quí bà Năm, nhưng khi cố vấn Trung Quốc cho biết là không thể thay đổi quyết định xử bắn bà để thị uy vì tất cả mọi nghi thức đã sắp xếp xong rồi thì ông im mồm và để cho bà Năm bị bắn. Sau này, trong các vụ Nhân Văn – Giai Phẩm và “xét lại chống đảng” ông cũng để mặc cho các cộng sự viên gần gũi bị bách hại oan ức. Ông bỏ rơi bà vợ chính thức Tăng Tuyết Minh để giữ hình ảnh một lãnh tụ thánh thiện chỉ sống cho đất nước và lấy đất nước làm gia đình. Cũng vì hình ảnh này mà ông hoặc đã ra lệnh hoặc đã chấp nhận thủ tiêu cô Nông Thị Xuân và bỏ rơi người con của ông với cô này. Có rất nhiều khả năng là chính ông đã quyết định tội ác này bởi vì ông quan tâm một cách bệnh hoạn đến hình ảnh của mình, ông đã dùng cả hai bí danh để viết sách tự đánh bóng mình. Một người không mắc bệnh tâm thần không thể làm như thế. Tóm lại, khi đứng trước khó khăn thì lòng yêu nước, những giá trị đạo đức, cũng như danh dự và an ninh của những người thân thiết với ông không có một trọng lượng nào đối với Hồ Chí Minh cả, ông có thể nhẫn tâm một cách đáng sợ.
Ông Hồ Chí Minh thiếu hẳn những kiến thức cần thiết mà mọi người lãnh đạo quốc gia, ngay cả trong thời đại của ông, phải có. Ông hoàn toàn không biết gì về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chính, luật pháp, và ngay cả về nông nghiệp. Trong cuốn sách “Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học” mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực (nhà xuất bản Sự Thật, 1958, tr. 41), ông tin và kêu gọi mọi người tin là một mẫu lúa tại Trung Quốc có thể đạt được 333 tấn lúa mỗi năm. Những phát biểu của ông, dù là bài viết hay bài nói, không chứng tỏ một sự hiểu biết nào, dù sơ sài đến đâu, về lịch sử thế giới và tư tưởng chính trị. Việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như một nhà tư tưởng là cả một xúc phạm đối với trí tuệ.
Không phải là Hồ Chí Minh không có tài, nhưng cái tài của ông ở chỗ khác. Ông lặn lộn và từng trải, học được nhiều bài học thực dụng. Ông sống một thời niên thiếu bi đát, một tuổi thanh niên chật vật, được hoàn cảnh đưa đẩy đến những hoạt động phiêu lưu nguy hiểm, được huấn luyện để làm gián điệp tại Nga và đã hoạt động tình báo thực sự với cả Nga, Trung Quốc lẫn Mỹ và Pháp trong bối cảnh chiến tranh và khủng bố. Có thể nói ông là người Việt Nam đầu tiên trong thế kỷ 20 có huấn luyện và kinh nghiệm trong các tổ chức quốc tế.  Cuộc sống đó đã tạo cho ông một bản năng sống còn đặc biệt bén nhậy và đã khiến ông hạ được các đối thủ, trong cũng như ngoài đảng cộng sản, nhưng mặt khác cũng đã khiến ông đặt an ninh, địa vị và danh tiếng cá nhân lên trên hết, và ông trở thành nguy hiểm cho mọi người vô tình hay cố ý trở thành một đe dọa thực sự hay tưởng tượng đối với ông.
Quãng đời đấu tranh chống chế độ thuộc địa của ông ngay trên đất Pháp trong thời gian 1915-1923, thường được Đảng Cộng Sản Việt Nam nhắc tới như một thiên anh hùng ca. Hai sự kiện nói lên con người Hồ Chí Minh. Ông rất ít nhắc tới những đồng chí của ông trong giai đoạn này, như các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Truờng, Nguyễn Thế Truyền đã hướng dẫn ông, nhất là Nguyễn Thế Truyền, người bạn thân đã đem ông vào Đảng Cộng Sản Pháp. Ông giành mọi thành tích của nhóm này cho riêng mình. Một sự kiện khác là ông đã tham gia hội Tam Điểm. Đây là một hội kín mà theo một số tài liệu đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 10 và có thế lực lớn tại các nước phương Tây, kể cả tại Pháp. Hội này có đặc tính nổi bật là các hội viên che chở cho nhau, mặt khác nó cũng chống chính sách thực dân.  Tam Điểm có vô số nhân vật đầy quyền lực cho nên khi ra mặt đả kích chế độ thực dân tại Pháp Hồ Chí Minh đã được bảo vệ. Nhưng Tam Điểm mâu thuẫn với Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản nên từ 1920 các đảng viên cộng sản bị cấm gia nhập hội này. Hồ Chí Minh đã chọn Đệ Tam Quốc Tế vì phong trào này cho ông một triển vọng thăng tiến lớn. Ông lặng lẽ bỏ hội Tam Điểm như một thành viên bị mất tích và cũng không khai báo gì với Đệ Tam Quốc Tế. Hồ Chí Minh đi hai hàng, Tam Điểm không biết ông là cộng sản, ngược lại Đệ Tam Quốc Tế cũng không biết ông là hội viên Tam Điểm. Sau Cách Mạng Tháng 8, những người hoạt động chính trị tại Việt Nam và thuộc hội Tam Điểm, do đó có khả năng biết Hồ Chí Minh cũng thuộc hội này, như Tạ Thu Thâu, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, v.v. đều bị thủ tiêu nhanh chóng. Ngoài ra còn có một đợt tàn sát khó hiểu đối với chức sắc Cao Đài, một biến thể của hội Tam Điểm tại Việt Nam, mà Nguyễn Hộ có kể lại trong hồi ký của ông. Sự tàn sát này phải chăng có mục đích khiến không ai ngờ rằng Hồ Chí Minh có một liên hệ nào với Tam Điểm? Điều chắc chắn là cho tới khi ông qua đời không ai biết Hồ Chí Minh đã thuộc hội này. Sự thực mới chỉ được phơi bày gần đây.
Cái gì đã khiến Hồ Chí Minh thành công? Có lẽ lý do chính là ông đã được huấn luyện tại Nga trong bối cảnh khủng bố của các thập niên 1920 và 1930 nên đã hiểu được bí quyết thành công của Đảng Cộng Sản Nga và hiệu lực của khủng bố. Đừng nên quên rằng cuộc cách mạng lật đổ Nga hoàng đã xảy ra vào tháng 2/1917, trong đó đảng cộng sản chỉ có một vai trò không đáng kể. Cách Mạng Tháng 10 Nga chỉ là cuộc đảo chính của đảng cộng sản sau khi đã nắm được thế thượng phong nhờ khủng bố. Hồ Chí Minh đã được huấn luyện về khủng bố và đã áp dụng khủng bố một cách thẳng tay. Cách Mạng Tháng 8 đã khởi đầu với sự thủ tiêu hàng loạt các “phần tử phản động”. Cuộc chiến tranh 1946-1954 đã là một giai đoạn khủng bố kinh hoàng. Đặc tính lãnh tụ khủng bố của Hồ Chí Minh cho đến nay chưa được nhấn mạnh đúng mức. Hồ Chí Minh sử dụng khủng bố ngay cả khi không cần thiết như trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm và nhất là trong đợt Cải Cách Ruộng Đất năm 1955, trong đó hàng trăm ngàn người đã bị sát hại. Không thể đổ lỗi cho Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và Hồ Viết Thắng vì lúc đó Hồ Chí Minh còn nắm mọi quyền hành. Cũng nên nhớ là mãi tới năm 1958, ba năm sau khi Cải Cách Ruộng Đất đã được nhìn nhận là một sai lầm đẫm máu, Hồ Chí Minh vẫn còn cho xuất bản cuốn sách mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực ca tụng cải cách ruộng đất tại Trung Quốc, khuôn mẫu của đợt cải cách ruộng đất tại Việt Nam.
Hồ Chí Minh chắc chắn là có tài, nhưng là cái tài của một chuyên viên sách động, khủng bố, lật đổ và cướp chính quyền, chứ không phải là cái tài của một người lãnh đạo quốc gia.
Còn về con người Hồ Chí Minh? Có thể tóm tắt ông đã là một đứa trẻ không may, không được nuôi nấng và dạy dỗ trong tình yêu và hạnh phúc, mất mẹ sớm lại phải chịu đựng một ông bố nghiện ngập và hung dữ. Gia đình ông đã là một thảm kịch và ông đã phải bỏ học và lăn lộn với đời rất sớm. Mỗi thảm kịch trong tuổi thơ đều để lại một thương tích trong con người và Hồ Chí Minh cũng không phải là một ngoại lệ. Ông đã bị chấn thương về tâm thần. Có lẽ chính thảm kịch gia đình, mà theo Trần Quốc Vượng đã bắt đầu ngay từ bà nội ông nhưng chắc chắn là đã trầm trọng từ đời thân phụ ông, đã khiến Hồ Chí Minh không có tình cảm gia đình. Tất cả những tài liệu do những người gần gũi với ông viết ra đều không bao giờ thuật lại một lần nào Hồ Chí Minh nhắc đến cha mẹ, anh em, ngày giỗ v.v. Đặc biệt là ông không coi trọng phụ nữ, dù là bà Tăng Tuyết Minh hay cô Nông Thị Xuân hay những người đàn bà khác. Trong cuộc đời Hồ Chí Minh không có những người đàn bà sung sướng và được quí trọng. Chị ông, mẹ ông và có lẽ cả bà nội ông, đã chỉ là những người sinh ra để làm nạn nhân. Thảm kịch cá nhân của Hồ Chí Minh đã biến ông thành một người mưu lược, khéo léo, nhưng vô nguyên tắc và không bị trói buộc bởi một giá trị nào.
Hồ Chí Minh có công hay có tội? Đó là một vấn đề sẽ còn tranh cãi rất nhiều và rất lâu. Nhưng nếu ta đặt câu hỏi một cách khác: “Nếu không có Hồ Chí Minh và đảng cộng sản thì Việt Nam sẽ khá hơn hay sẽ kém hơn hiện nay?” thì chắc chắn tuyệt đại đa số người Việt sẽ có cùng một câu trả lời. Nói chung Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là những sự kiện đáng tiếc. Trong cuốn “Thời Dựng Đảng” do Đảng Cộng Sản Việt Nam xuất bản, ông Thép Mới viết : “Các thế hệ Việt Nam sau này sẽ nhớ đến Hồ chủ tịch như là người đã có công đem chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam”. Nhận định này đúng, và giải thích lý do tại sao Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cố gượng gạo duy trì trên đầu môi chủ nghĩa Mác – Lênin. Vấn đề là  việc đem chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam có lợi gì?
Nhưng dù Hồ Chí Minh có thế nào đi nữa, dù ông có công hay có tội, thì ông cũng vẫn là một con người và vẫn phải được hưởng quyền tối thiểu của một người chết, nghĩa là được yên nghỉ. Việc đem xác một người đã chết trưng bày ở giữa một công trường, dù là trong một lăng đồ sộ và trong một lồng kiếng, là một hành động dã man theo văn hóa Việt Nam. Không một người Việt Nam nào có thể bị đối xử như thế. Hồ Chí Minh đã bị sử dụng như một dụng cụ tuyên truyền. Đã đến lúc ông có quyền được an táng một cách văn minh.

Nguyễn Gia Kiểng
(Tháng 5/1994)

TAM QUYỀN PHÂN LẬP LÀ GÌ?

NGUỒN GỐC
Lý thuyết phân quyền trong việc điều hành guồng máy một quốc gia bắt nguồn từ 2 lý thuyết gia lừng danh, John Locke (Anh, 1632 – 1704) và Montesquieu (Pháp, 1689 – 1755).
Trong “Luận về Chính quyền dân sự” (Two Treatises of Government – 1689), Loke chủ trương chia 3 quyền phân biệt sau:
Lập Pháp
Hành Pháp
Ngoại Giao
Trong “Vạn Pháp Tinh Lý” (De l’esprit des lois / The Spirit of the Laws, 1748), Montesquieu sửa đổi và bổ sung lý thuyết của Loke trở thành 3 quyền sau:
Lập Pháp: soạn thảo hiến pháp, luật pháp cho quốc gia, và biểu quyết các đạo luật từ Hành pháp.
Hành Pháp: điều hành đất nước dựa trên việc thực thi luật pháp và tuân thủ hiến pháp
Tư Pháp: dựa trên luật pháp quốc gia, tổ chức xét xử tất cả những hành vi phạm pháp của công dân và của các cơ quan công quyền kể cả cá nhân trong các cơ quan đó…
Theo lý thuyết này của Montesquieu thì Hành pháp đảm nhiệm cả việc đối ngoại cho quốc gia.
Gần 300 năm qua, ý tưởng và lối thiết kế phân quyền của Montesquieu vẫn còn nhiều ảnh hưởng cho dù theo đà tiến triển của văn minh nhân loại, người ta đã có nhiều phát kiến bổ khuyết cho phù hợp với từng quốc gia địa phương, nhưng tựu trung lại vẫn càng làm vững thêm cho lý thuyết phân quyền, một điểm son của văn minh nhân loại đang hiển hiện qua hình dạng các thể chế chính trị tự do dân chủ trên thế giới.

ĐẶC ĐIỂM
Vì sao J. Loke và Montesquieu phải chủ trương phân quyền? Điều gì đã khiến các vị lý thuyết gia tiên phong của nhân loại nghĩ ra lý thuyết ấy?
Ta hãy nghe Montesquieu: “…Khi lập pháp bị sát nhập vào hành pháp nghĩa là quyền sinh ra luật và thi hành luật nằm trong tay 1 nhóm người thì đất nước không có tự do được! Thật đơn giản để vừa làm ra luật vừa áp dụng luật một cách độc đoán… Nếu mà cả tư pháp lại bị nhóm quyền hành này thâu tóm nữa thì chế độ cai trị sẽ có sức mạnh của kẻ áp bức…” (“Vạn Pháp Tinh Lý”)
Như vậy, nguyên tắc phân quyền ra đời cốt để ngăn chặn độc tài hoặc dân chủ giả hiệu. Nó phân chia hài hòa các bình diện trách vụ của quốc gia làm 3 nơi.
Phân nhiệm: mỗi cơ quan đại diện cho công quyền quốc gia thực thi một nhiệm vụ riêng, có quyền hạn trong phạm vi nhiệm vụ đó mà thôi.
Độc lập: sự phân nhiệm như thế đã ấn định thẩm quyền của mỗi cơ quan, do đó, các cơ quan hoàn toàn độc lập với nhau từ quyền hạn đến trách vụ, cho nên sẽ không thể có sự dẫm đạp nhau hoặc thông đồng, ảnh hưởng đến nhau hay phối hợp nhau mà nhũng lạm quyền hành. Tỉ dụ, quốc hội (lập pháp) không có quyền xen vào việc của chính phủ (hành pháp) cũng như chính phủ không thể khiến quốc hội biểu quyết các dự thảo luật, đạo luật v.v…
Tầm quan trọng của quyền Lập Hiến và Hiến pháp
Chú ý rằng, quyền Lập Hiến là tối thượng, nguyên thuỷ và bất khả phân của quốc gia. Quyền Lập Hiến chính là Chủ quyền của đất nước.
Hiến Pháp là những nguyên tắc và là tuyên ngôn tối thượng, là kim chỉ nam cho sinh hoạt chính trị của quốc gia, và đồng thời là khế ước bắt buộc đối với bộ máy cầm quyền phải thực thi nhân quyền và dân quyền, nghĩa là họ được dân bầu lên (trong 1 nhiệm kỳ hạn định) để phục vụ ý dân thông qua các chức danh đại diện quyền lực chính quyền của dất nước.
Vì thế, các cá nhân hay nhóm thiểu số nắm quyền lực thì sẽ phải mãn nhiệm nhưng Hiến Pháp thì không. Hiến Pháp thì trường cửu và chỉ có thể được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế đời sống bởi những quy trình tu chính công minh và nghiêm ngặt.
Đối với những cơ quan công quyền trong một quốc gia, tội vi hiến là trọng tội và hậu quả là bị bãi nhiệm hoặc truy tố.
Vì Hiến Pháp quan trọng như thế nên bất cứ chế độ cai trị nào thao túng quy trình tạo lập Hiến Pháp, tùy nghi sinh ra, tùy ý sửa đổi… thì chế độ đó là một thứ guồng máy độc tài, áp bức và man trá.
Và một chế độ thực sự công bằng, tự do dân chủ phải lấy ý tưởng phân quyền làm nền tảng trong việc soạn thảo Hiến pháp.
Nguyên tắc phân quyền chỉ có giá trị theo sau, khi một Hiến Pháp thực sự của dân, do dân và vì dân được xác lập bởi một Quốc Hội Lập Hiến. Quốc Hội Lập Hiến do dân bầu trong một cuộc phổ thông đầu phiếu hợp lệ, công bằng và khách quan, trong sạch.
Sau khi soạn thảo xong Hiến Pháp, Quốc Hội Lập Hiến giải tán và nhường bước lại cho các diễn tiến thực thi tam quyền phân lập đã được hiến định, đó là tiến hành các cuộc bầu cử trọng yếu bầu ra bộ máy Hành Pháp và Lập Pháp. Riêng Tư Pháp, có nơi do dân bầu trực tiếp, có nơi do Hành Pháp chỉ định (bổ nhiệm) và được Lập Pháp chuẩn thuận.

CƠ CẤU TỔ CHỨC CÁC CƠ QUAN CÔNG QUYỀN


CƠ QUAN LẬP PHÁP: QUỐC HỘI

Định Nghĩa:
Ngoại trừ Quốc Hội Lập Hiến với nhiệm vụ và trọng trách hạn định như đã trình bày ở trên, đã giải tán sau khi soạn thảo xong Hiến Pháp, thì Quốc Hội Lập Pháp (hay còn gọi là Nghị Viện) là cơ quan công quyền thường trực, gồm các dân biểu (đại biểu của dân, do dân bầu) và cũng sẽ được tái bầu theo hạn trình hiến định.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc Hội là soạn thảo Luật lệ cho quốc gia, biểu quyết các đạo luật từ hành pháp và kiểm soát bộ máy hành pháp trong việc thực thi chính sách quốc gia.
Phân Loại:
1- Chế độ nhất viện: Theo chế độ này thì Quốc Hội chỉ có 1 viện duy nhất (ví dụ Quốc Hội VNCH từ 1956 – 1963).
Nhất viện quốc hội có những lợi ích như việc lập pháp nhanh chóng và tập trung, các dân biểu sinh hoạt trong 1 viện duy nhất nên dễ làm việc, đoàn kết và thống nhất ý chí, chưa kể việc ngân sách quốc gia cũng được giảm nhẹ.
Chế độ nhất viện được áp dụng duy chỉ tại VNCH thời đệ nhất cộng hòa do bởi tình hình đặc biệt lúc đó: nền cộng hỏa non trẻ của Việt Nam lần đầu tiên được thành lập, trong bối cảnh miền bắc cộng sản đang chuẩn bị một cuộc xâm lăng quy mô và lâu dài với viện trợ hùng hậu của đế quốc cộng sản Nga sô và Trung cộng hòng thôn tính miền Nam tự do cho tham vọng nhuộm đỏ thế giới.
2- Chế độ lưỡng viện: Theo chế độ này thì Quốc Hội có 2 viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện.
Các dân biểu Hạ viện được bầu từ các tỉnh, địa phương. Các nghị sĩ Thượng viện được bầu trên quy mô toàn quốc. Do đó chế độ lưỡng viện đại diện đầy đủ các tấng lớp nhân dân. Các quốc gia liên bang (hoặc không) thường áp dụng chế độ lưỡng viện quốc hội như Hoa Kỳ, Đức, Thụy Sĩ (hay Anh, Pháp, VNCH -đệ nhị cộng hòa 1967).
Chế độ lưỡng viện thận trọng và chắc chắn hơn trong việc lập pháp. Nếu Hạ viện sôi nổi hơn với đòi hỏi đặc thù của tầng lớp quần chúng địa phương thì Thượng viện chín chắn hơn trong việc điều hòa nhu cầu địa phương và tiếng nói chung của quốc gia.
Thượng viện còn là nơi có thẩm quyền khả dĩ làm vai trò theo dõi và kiểm soát mọi hoạt động của chính phủ (hành pháp). Vì thế nền chính trị quốc gia dễ thăng bằng và khó rơi vào chỗ cực đoan hay nhũng lạm quyền hành hay nguy cơ phát sinh mầm mống độc tài.
Quy chế:
Để bảo đảm tính độc lập và quyền uy trong vai trò đại diện ý dân, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng một số đặc quyền cũng như bị một vài hạn chế.
Đặc quyền:
- Tự do phát biểu ý kiến: Dân biểu và Nghị sĩ hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến tại nghị trường Quốc hội. Không ai có thể khiến Dân biểu hay Nghị sĩ biểu quyết hay không về một chủ đề bàn thảo hay thông qua một đạo luật chẳng hạn. (Ví dụ: Điều 37 Hiến Pháp VNCH (1967): “Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử dân biểu hay nghị sĩ vì những phát biểu và biểu quyết của họ tại quốc hội”
- Bất khả xâm phạm: Nhằm ngăn ngừa bị uy hiếp và bảo vệ vai trò của người đại diên cho dân chúng, Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng quyền Bất khả xâm phạm (quyền này không áp dụng cho trường hợp các tội vi cảnh, hay liên quan đến kỷ luật nội bộ Nghị viện, hay quả tang phạm pháp). Ví dụ: Điều 37-2 Hiến Pháp VNCH (1967): “Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã bắt giam hay xét xử dân biểu hay nghị sĩ nếu không có sự chấp thuận của 3/4 tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ”
- Hoãn dịch: Trong thời gian pháp nhiệm, Dân biểu và Nghị sĩ không phải thi hành quân dịch (Military Service). Quyền này nhằm tôn vai trò quan trọng và ưu tiên của những vị dân biểu trong việc thực thi ý dân giao phó.
- Phụ cấp cao: Dân biểu và Nghị sĩ được hưởng phụ cấp cao bằng ngân sách quốc gia nhằm giúp các vị yên tâm về sinh kế để tập trung cho trọng trách đang mang, hơn nữa, để dễ dàng chối từ các cạm bẫy lợi dụng của các thế lực khác muốn chi phối vai trò đặc quyền của Nghị viên.
Hạn chế:
- Bất khả kiêm nhiệm: Dân biểu và Nghị sĩ không được kiêm nhiệm bất kỳ công vụ nào khác được trả lương, hay kiêm thêm 1 nhiệm vụ dân cử khác, hoặc kiêm nhiệm một vai trò, chức vụ doanh vụ tư nhân.
Tuy nhiên, các Nghị viên có thể tham gia phụ trách giảng huấn nếu có năng lực, tại các trường Đại Học hoặc Cao Đẳng.
- Bảo mật tài liệu: các Nghị viên có trọng trách gìn giữ bí mật về các tài liệu quốc gia được bàn thảo tại nghị trường quốc hội.
- Không được dự thầu: các Nghị viên (và người hôn phối) Không được tham gia các vụ đấu thầu hay ký các giao kèo doanh vụ với các cơ quan công quyền khác.

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

NGUỒN GỐC TỪ Y TÁ LÊN THỦ TƯỚNG

Nguồn gốc từ y tá lên thủ tướng

Lâu nay bạn đọc thường vẫn hỏi nhau một trong những câu hỏi, mà cho đến gần đây chưa có câu trả lời thỏa đáng, có chăng thì cũng chỉ là những lời đồn thổi khó thuyết phục vì xét ra cũng là thiếu lôgich: Tại sao Nguyễn tấn Dũng, với nhân thân (công khai) có thế nói rằng không có gì nổi bật, nếu như không muốn nói là quá tầm thường, mà lại leo cao, trèo sâu nhanh đến như vậy?.
Hôm nay, Thăng Long tôi xin cùng phân tích với quí vị để trả lời cho câu hỏi nêu trên (mọi người chớ có cho rằng tôi là... thầy bói đấy nhé). Chúng ta cùng ngược lại thời gian cách nay hơn 20 năm, lúc đó không hiểu từ đâu bỗng thấy xuất hiện một tài liệu nặc danh (chỉ đề là: một lão thành cách mạng, biết không còn sống được bao lâu, nên chỉ muốn các đồng chí biết một sự thật mà tôi và một số đồng chí khác đã trực tiếp chứng kiến) câu chuyện như sau: 
Năm 1948 một nữ cán bộ khu chín ra khu bốn cũ (vùng Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh) công tác, có gặp và rồi có tình cảm với đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Sau đó thì nữ đồng chí này có thai, được khoảng trên ba tháng gì đó thì phải nhận nhiệm vụ quay về miền nam tiếp tục công tác rồi sau đó sinh ra một cháu trai. Theo lời dặn của anh Thanh, đặt tên cháu là Nguyễn Tấn Dũng... 
Ảnh - Nguyễn Chí Thanh
Tài liệu vừa trích dẫn, chưa biết đúng-sai thế nào nhưng nó cũng làm dư luận xôn xao một thời gian dài và quả thật, gần như ngay lập tức trên chính trường bỗng xuất hiện một nhân vật lạ hoắc mang tên Nguyễn Tấn Dũng (mà lần lượt "kinh qua" nhiều chức vụ "chuyên trị" làm cấp phó và cấp trưởng nhỏ ở nhiều cơ quan khác nhau... rồi bây giờ đang là thủ tướng nhiệm kỳ hai). 
Xâu chuỗi các sự kiện, người ta đặt ra câu hỏi: ông Nguyễn Chí Thanh đã chết từ rất lâu rồi, lại không thể đủ uy tín và tầm cỡ như ông Hồ (ám chỉ trường hợp Nông Đức Mạnh). Hơn nữa vào thời điểm đó dù Nguyễn Chí Vịnh có ra tay giúp người anh cùng cha khác mẹ (tạm cho là như vậy) thì cũng khó thuyết phục, bởi vì lúc đó Vịnh cũng "chưa là cái gì" cả dù y có là trùm tổng cục 2, vì bên trên toàn là loại"cây đa cây đề", cũng không dễ để y tự tung tự tác như thời gian sau này... 
Vậy thì do đâu mà Dũng lại được cả "tứ trụ triều đình" thời bấy giờ nhất lòng nâng đỡ và ủng hộ đến mức bất thường đến thế? Câu hỏi là quá khó để trả lời thì lại thấy xuất hiện một lời đồn mới là "Nguyễn Tấn Dũng chính là hậu duệ của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tức là thuộc dòng dõi ông Hồ. Lời đồn thổi này quả thực cũng có lý (thiên hạ đem ra để so sánh với trường hợp lên nhanh của Nông Đức Mạnh). Xét về mọi mặt, lời đồn này có thể còn "si nhê" hơn là cho rằng y thuộc dòng dõi Nguyễn Chí Thanh... Nhưng, khi chúng ta bình tĩnh lại mà suy xét thì lại cay đắng nhận ra rằng: Tất cả chỉ là một trong những "quả lừa" mà đảng cộng sản và những kẻ nhân danh nó cho Dân chúng "ăn" liên tục mà thôi!!! 
Bây giờ, chúng ta xét trường hợp cụ Phó bảng trước: Nếu Nguyễn Tấn Dũng là hậu duệ, xét về tuổi tác thì phải là hàng cháu chắt mà cha, con ông Hồ lại đã chết từ rất lâu rồi. Hơn nữa bản thân ông Hồ cũng lại chết trước khi thống nhất đất nước những sáu năm thì làm sao biết được Nguyễn Tấn Dũng là ai để mà "dặn dò" hậu thế nâng đỡ? (trong khi Nông Đức Mạnh thì họ đã biết từ lâu rồi...). Giả sử có người "biết chuyện" báo cáo với trung ương thì liệu có ai tin? Cụ phó bảng trước khi chết cũng không thể biết trước được sau này mình lại có hậu duệ tên là Tấn Dũng để mà viết di chúc hay làm sẵn gia phả? Quả là điều không tưởng nếu như không muốn nói là quá vớ vẩn. Do đó ta hãy loại bỏ trường hợp này, vì nó quá phi lý! 
Vậy còn trường hợp Nguyễn Chí Thanh có phải là cha Nguyễn Tấn Dũng? Ta xét quá trình công tác của ông Thanh thì thấy rằng: Ông Nguyễn Chí Thanh mãi đến sau chiến dịch biên giới 1950 mới vào công tác tại khu bốn cũ (tức là vùng Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay). Trong khi đó thì ai cũng biết là Nguyễn Tấn Dũng sinh năm 1949, thế thì mẹ y có bầu với ai đó chứ làm sao mà đỗ thừa cho ông Thanh được? Sự vô lý còn ở chỗ, ai cũng biết là "Bộ tham mưu" của Việt minh nằm hết ở chiến khu Việt Bắc, chứ đâu có ở khu bốn cũ mà người nữ cán bộ từ mãi tận trong Nam ra đó thì công tác cái nỗi gì? Không lẽ ra chỉ để "gặp" người chưa quen biết rồi đẻ ra Nguyễn tấn Dũng?... Hơn nữa, thời đó thì làm gì đã có nhiều ô tô để cấp riêng cho bà cán bộ đó, dù là có bầu với (ông Thanh); do đó, bà phải đi bộ như những người khác, mà từng ấy cây số, lại đã có bầu trên ba tháng mà phải đi bộ đầy hiểm nguy gian khổ như thế mà bà không đẻ non dọc đường thì mới là chuyện lạ, không lẽ cố mà lết về đến tận Kiên Giang mới chịu cho Nguyễn tấn Dũng chui ra? 
Xét về hình thể, rõ ràng ta thấy rằng ông Nguyễn Chí Thanh là người nhỏ thó. Khuôn mặt và dáng người Nguyễn Chí Vịnh là khá giống cha còn Nguyễn Tấn Dũng lại khác hoàn toàn từ dáng người cho đến khuôn mặt... Từ tất cả những dẫn chứng nêu trên, ta có thể nói rằng Nguyễn Chí Thanh không hề có thằng con nào như thế và việc gán cho ông suy cho cùng cũng chỉ là cái trò "gắp lửa bỏ tay người" để đánh lừa dư luận mà thôi!. 
Vậy thì Nguyễn Tấn Dũng là con ai mà lại lên nhanh đến thế? Kẻ đó chính là "Thái thượng hoàng" Lê Đức Anh. Những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước tuy chỉ làm chủ tịch nước nhưng lại được đàn anh là Lê Đức Thọ bảo kê và "dìu dắt" (lúc này Lê Đức Thọ như Thái thượng hoàng) chính y đã ép thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định nâng cấp cục 2 thành tổng cục 2 trực thuộc bộ chính trị, cho theo dõi toàn bộ ban chấp hành trung ương để giúp y nắm gáy mọi người nhằm dễ bề khuynh loát chính trường và thời gian này con đường hoạn lộ của gã con hoang của y cũng thực sự bắt đầu. 
Trước tiên, ta hãy xét quá trình hoạt động của Lê Đức Anh. Không tính thời gian y làm cai đồn điền cho mật thám Pháp thì suốt trong những năm theo Việt Minh chống Pháp cũng như sau này, trước năm 1975 thì chưa bao giờ y ra khỏi vùng gọi là Quân khu 9 (tức là mấy tỉnh cực nam của tổ quốc). Trong đó, dĩ nhiên bao gồm cả vùng đất đã sinh ra và nuôi dưỡng Nguyễn Tấn Dũng! 
Xét về hình tướng thì cha con y rõ ràng có những nét vô cùng tương đồng: cùng cao lớn, khuôn mặt và các chi tiết như mũi, gò má, cằm, trán v.v... Chúng ta đem so sánh hình ảnh chụp công khai của cha, con y thì sẽ tự đối chiếu ra thôi, có khó gì? 
Cho nên đã có nhiều bạn thấy thằng Nguyễn Thanh Nghị rất giống Lê Đức Anh thì cũng không có gì là lạ, vì xưa nay cháu có nét giống ông nội là chuyện thường tình. 
Nói về một điều khá lạ nữa cũng liên quan đến cha, con y là mỗi khi xảy ra một sự việc nào đó, hễ mà thái thượng hoàng cha lên tiếng công khai thì y như rằng được thằng con "chấp hành" ngay còn người khác có là cỡ nào nói thì cũng chẳng "xi nhê" gì (ta lấy ví dụ gần nhất là vụ Tiên Lãng thì thấy rõ liền...). 
Tội ác của cha, con y đối với Dân tộc như đã và đang xảy ra thì rất nhiều người đã biết, nhưng vụ bị mang tiếng với quốc tế vì xâm chiếm Campuchia dẫn đến bị cấm vận trong hơn 10 năm thì có lẽ ít người biết một cách tường tận: "Nếu đánh trả Khơ me đỏ theo cách của Tướng Giáp thì ngày nay làm gì còn Khơ me đỏ để tòa án quốc tế mất thời giờ xét xử!..." Tại sao BBC lại bình luận như vậy? Họ ngồi trong phòng có điều hòa rồi võ đoán chăng? Xin thưa là không, mà là họ nói rất đúng! 
Ảnh - Lê Đức Anh
Trước tiên, chúng ta phải khẳng định rằng việc đánh trả Khơ me đỏ xâm lược và giết hại dã man đồng bào ta là đúng! Vấn đề là ở cách đánh như thế nào.? Chúng ta đều đã biết là sau năm 1975 Quân đội VNCH đã để lại gần như nguyên vẹn mọi khí tài thuộc tất cả các quân binh chủng Hải-Lục-Không quân... Ta dùng trực thăng vận đổ quân bao vây toàn bộ biên giới Thái Lan-Campuchia, phía biển dùng tàu chiến các loại & tàu đổ bộ bao vây toàn bộ các hải cảng (ví dụ cảng sihanucvin...) Dùng bộ binh, tăng, thiết giáp, pháo binh tấn công dọc biên giới VN-Campuchia và Lào - Campuchia vậy thử hỏi Khơ me đỏ nếu không đầu hàng thì chạy đi đâu? Đó chính là cách đánh của Tướng Võ Nguyên Giáp mà BBC đã bình luận ở trên! Vậy mà tiếc thay, tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ - Văn Tiến Dũng không những không nghe mà lại cử Lê Đức Anh (kẻ cơ hội chỉ quen đánh trộm kiểu du kích) làm tư lệnh chiến trường... 
Kết quả là không những không thể giải quyết đánh nhanh thắng nhanh (là binh pháp sơ đẳng khi phải chiến đấu trên đất nước đối phương) mà phải kéo dài sự chiếm đóng bất đắc dĩ kéo theo cái chết "bất đắc kỳ tử" của hàng chục ngàn binh sĩ đêm đêm làm mồi cho du kích Khơ me đỏ. Đã thế lại còn đẩy Dân tộc lâm vào cảnh đói nghèo vì kiệt quệ do chiến tranh quá kéo dài, danh dự-uy tín của Quốc Gia trở về con số không to tướng... Ấy vậy mà sau vụ Xiêm Riệp (Lê Đức Anh chỉ đạo giết hại rất nhiều đảng viên Khơ me vô tội...) Lê Đức Anh về nước lên làm bộ trưởng quốc phòng thay Văn Tiến Dũng, rồi từ đó lên chủ tịch nước như chúng ta đã biết. Thời gian này y cùng "bộ tứ" khom lưng cúi đầu dâng đất, dâng biển qua hiệp định Thành Đô ô nhục để giữ chế độ độc tài đảng trị... Tội ác này của tập đoàn cộng sản VN rồi đây sẽ có ngày Nhân Dân sẽ phán xét phân minh!... 

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

KHÔNG NÊN BẬN TÂM NHIỀU VỚI CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ

Tôi nhận được bài viết của ông Nguyễn Thanh Giang về việc ông Lữ Phương bảo vệ chủ nghĩa Mác do một bạn trẻ gửi đến. Sau khi xem lại bài viết trên ở trang Dân Luận, tôi có đôi điều nói lại với bạn trẻ nói trên và một số bạn khác quan tâm.
Câu trả lời ngắn gọn nhất của tôi là: Các bạn không nên bận tâm nhiều với chủ nghĩa Mác làm gì cho mất thì giờ. Bây giờ thì giờ là vàng bạc. Ai đó thích bảo vệ chủ nghĩa Mác thì…kệ họ. Các bạn nên để thì giờ vào những việc khác hữu ích hơn. Chủ nghĩa Mác cùng với hệ quả trực tiếp của nó là chủ nghĩa Mác – Lênin đã bị nhân dân các nước Đông Âu ném vào sọt rác của lịch sử. Cái gì đã bị ném đi thì không thể trở lại được nữa đâu, ai đó muốn tô vẽ cho một lý luận vứt đi thì chỉ mất uy tín.
Có bạn phân vân: Nếu chủ nghĩa Mác là sai lầm thì tại sao lại sống dai bao nhiêu năm như vậy? Câu trả lời cũng dễ: Chủ nghĩa ấy tồn tại nhờ khẩu súng. Bạn thử nghĩ xem, nếu năm 1917 cách mạng tháng Mười không thành công, chính quyền Xô – viết không dùng súng để bảo vệ thì liệu chủ nghĩa Mác có được vị trí nào trong lịch sử tư tưởng nhân loại? Thì cũng như nhiều trào lưu tư tưởng khác ở châu Âu, chỉ một số nhà nghiên cứu làm luận văn gì đó đến thư viện tra cứu, bàn luận trên giấy, in thành sách để…cất đi, hoặc hơn nữa là tặng bạn bè. Chỉ thế thôi. Có bạn đọc thấy nhiều “nhà khoa học đáng kính” bảo vệ chủ nghĩa Mác nên còn do dự. Đó là quyền tự do tư tưởng của mỗi người, chúng ta không bàn.
Trước hết chúng ta cần xác định: chủ nghĩa Mác có phải là chủ nghĩa Lênin không? Như ông Lữ Phương thì coi chủ nghĩa Lênin không phải là chủ nghĩa Mác. Để làm rõ điều này cần xem xét những tiền đề cơ bản của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin có trùng nhau không? Theo chương trình chính thức trong trường đại học mà các bạn đang học, chủ nghĩa Mác-Lênin gồm 3 bộ phận cấu thành: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế Chính trị Mác – Lênin, Chủ nghĩa Xã hội Khoa học.
Hãy nói đến triết học Mác. Các trào lưu triết học được chia làm 2 nhóm lớn: duy tâm và duy vật. Theo các giáo trình chính thống, vấn đề cơ bản của triết học là xét xem ý thức và vật chất, cái nào có trước? Nếu coi ý thức là cái có trước thì thuộc duy tâm, còn nếu coi vật chất là cái có trước thì thuộc duy vật. Triết học Mác thừa nhận vật chất là cái có trước, vật chất quyết định ý thức, do đó là triết học duy vật. Ông Stalin nói: Mác hay trích dẫn Hêghen, nhưng triết học Mác ngược lại với Hêghen. Mác kế thừa toàn bộ triết học Hêghen nhưng lại đảo ngược vai trò giữa ý thức và vật chất. Hêghen coi ý thức là cái có trước (do đó triết học Hêghen là duy tâm), còn Mác coi vật chất là cái có trước. Ở đây chúng ta thấy Mác không có gì “mới” so với Hêghen, các phạm trù, quy luật của triết học Hêghen được Mác kế thừa toàn bộ, có chăng chỉ là đảo lại vai trò ý thức và vật chất. Nếu các bạn vận dụng triết học Mác để xem xét vấn đề thì cứ yên tâm đi, bạn chưa phải là nhà mác-xít đâu, thực chất vẫn là Hêghen đấy. Lênin đã kế thừa nguyên vẹn triết học duy vật của Mác, do đó, về mặt triết học, chủ nghĩa Lênin chính là chủ nghĩa Mác.
Nói về kinh tế chính trị, các bạn đều đã được học tinh thần cơ bản của bộ Tư bản. Mác đã phân tích chủ nghĩa tư bản (theo cách gọi của ông), trong đó đưa ra khái niệm tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị thặng dư (c+v+m). Điều làm cho chủ nghĩa Mác khác hẳn với các lý luận khác là ở chỗ: Mác khẳng định nhà tư bản bóc lột lao động làm thuê. Lý luận của Mác như sau: Hãy giả sử có nhà tư sản luôn luôn mua được rẻ, thế thì ông ta chỉ lợi khi là người mua, và thiệt thòi khi là người bán, tóm lại không lợi gì. Lại giả sử có nhà tư sản luôn luôn bán đắt, thì ông ta được lợi khi là người bán, nhưng thiệt thòi khi là người mua, tóm lại vẫn không lợi gì. Bây giờ giả sử có nhà tư sản luôn mua được rẻ, bán đắt; thế thì chỉ nhà tư sản đó có lợi thôi, giai cấp tư sản không thể làm giầu trên lưng mình được. Vậy giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất ở đâu ra? Mác cho rằng đấy là giá trị do người làm thuê làm ra, bị nhà tư sản chiếm không. Toàn bộ lý luận này dựa trên tiền đề cơ bản là trao đổi ngang giá. Mới nghe qua thấy lý luận rất chặt, có lý, nhưng suy nghĩ thêm một chút thì…không ổn. Câu hỏi đặt ra là: Thế thì “công lao động” của nhà tư sản ở đâu? Lý luận của Mác không có phần này! Kể cũng lạ, Mác thừa nhận chế độ tư bản đã sản xuất ra một lượng hàng hoá khổng lồ, vượt qua tất cả số lượng hàng hoá do các chế độ trước cộng lại, vậy mà các nhà tư sản, nhân vật chính của chế độ tư bản lại không có công gì? Để mọi việc trở lại bình thường như vốn có, chỉ cần “thêm” phần công của các nhà tư sản vào lý luận trên. Ngoài phần trả công định lượng bằng tiền, còn có phần “tinh thần”, hay nói khác đi, có phần “tư tưởng”, phần “ý tưởng”, không đo được bằng tiền. Nhưng nếu làm thế thì lại phải thừa nhận phần “tinh thần”, hay gọi theo kiểu triết học là phần “ý thức” trong nguồn lực sản xuất, là điều mà Mác đã xoá bỏ ngay từ đầu khi xác định triết học cùa mình là “duy vật”. Sau này Lênin kế thừa toàn bộ lý luận của Mác, vận dụng lý luận này vào việc nghiên cứu kinh tế (Xem bài “Bàn về kinh tế thị trường” của Lênin). Trong bài Bàn về kinh tế thị trường, Lênin chia thành 2 khu vực sản xuất: khu vực sản xuất ra tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất ra tư liệu tiêu dùng. Lý luận cơ bản của bài này đã được đưa vào giáo trình dạy kinh tế chính trị trong trường đại học, các bạn đều đã biết. Theo tôi, lý luận này có 2 điểm yếu chí mạng: thứ nhất, lý luận trên không đề cập đến giá trị tinh thần có trong sản phẩm. Giá trị này biểu hiện qua thương hiệu, uy tín của nhà sản xuất.v.v…Thứ hai, lý luận trên chỉ xét khi nhà tư sản bán được hàng. Thế nếu nhà tư sản không bán được hàng thì sao? Thì toàn bộ lý luận trên chỉ còn nước…vứt đi. Các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa học tại các trường Đảng nghĩ rằng hễ đem bằng này tiền đầu tư sản xuất thì có bằng kia sản phẩm, lãi là bằng này, thế tức là sản xuất phát triển. Rồi họ lấy tổng số vốn + lãi chia cho số vốn và kết luận năm nay đã tăng được bấy nhiêu phần trăm. Kết quả là sản xuất ngày càng kém, thiếu hàng hoá trầm trọng. Họ quên mất hàng sản xuất ra phải bán được, yếu tố bán được phụ thuộc nhiều vào giá trị tinh thần mà trong lý luận kinh tế Mác không xét đến. Nhưng với chúng ta thì đã rõ: chủ nghĩa Lênin đã kế thừa chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực kinh tế chính trị, có thể nói chủ nghĩa Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại mới là sự thật hiển nhiên.
Vào những năm 80 (thế kỷ XX) tôi đọc một bản tin phổ biến cho các lãnh đạo cao cấp có tin như sau: Một công ty Nhật đưa toàn bộ rô-bốt vào công đoạn sản xuất, số công nhân ở đây bị sa thải. Bản tin phê phán tính chất khắc nghiệt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng về lý luận thì điều đó dẫn đến câu hỏi: Lý luận “bóc lột lao động làm thuê” của Mác trong trường hợp này sẽ ra sao? Tôi không tìm được câu trả lời, dành cho các bạn xét tiếp.
Bây giờ chúng ta nói đến chủ nghĩa xã hội khoa học. F.Ăngghen khẳng định Mác là thiên tài khi phát hiện ra lý luận “đấu tranh giai cấp”, “đấu tranh giai cấp là đầu tầu của lịch sử”. Lý luận đấu tranh giai cấp của Mác dẫn đến khái niệm “chuyên chính vô sản”, được Lênin kế thừa, tuy có điểm khác biệt với Mác. Mác đã coi chế độ “cộng hoà đại nghị”“chính quyền chuyên chính vô sản tốt nhất” (xem ra, Mác khá là dân chủ). Thoạt đầu, Lênin cũng đồng tình với ý kiến này. Năm 1917, cách mạng tháng Mười thành công ở Nga, Lênin tổ chức cuộc bầu cử có tính chất toàn dân, rất dân chủ. Nhưng kết quả cuộc bầu cử làm Lênin choáng váng: Những người bônsêvích chỉ chiếm tỉ lệ 13% trong chính quyền mới. Ông giận dữ huỷ bỏ kết quả bầu cử, cho bầu cử lại. Sau đó ông đưa ra lý luận: Chính quyền chuyên chính vô sản tốt nhất là chính phủ công, nông, binh mà ông gọi là “chính quyền Xô-viết”. Nếu trong triết học và kinh tế chính trị Lênin không khác với Mác bao nhiêu thì trong lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Lênin khác với Mác khá nhiều. Sự khác biệt này trong nhiều năm được coi là bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác, nâng cao chủ nghĩa Mác lên thành chủ nghĩa Mác -
Lênin. Có thể kể thêm vài khác biệt: Mác nói cách mạng vô sản chỉ xẩy ra khi giai cấp vô sản chiếm đa số trong dân cư, khi cách mạng nổ ra cùng lúc ở tất cả các nước tư bản phát triển nhất…Lênin đưa ra lý luận “liên minh công nông”, từ đó ông cho rằng cách mạng có thể xẩy ra khi liên minh giai cấp công nhân và nông dân chiếm đa số, đồng thời dựa trên nhận xét chủ nghĩa tư bản phát triển không đều ông cho rằng cách mạng vô sản có thể chỉ xẩy ra ở số ít nước, thậm chí một nước duy nhất. Từ khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ toàn diện ở châu Âu mới có người đòi tách bạch chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin để bảo vệ Mác. Nhưng nếu xem xét lý luận chủ nghĩa Lênin trong hướng phát triển của chủ nghĩa Mác thì phải công nhận rằng: Chủ nghĩa Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh mới. Vào những năm 30 thế kỷ XX, Mao Trạch Đông ở Trung Quốc muốn đưa ra “tư tưởng Mao Trạch Đông”, sau này các nhà nghiên cứu gọi là chủ nghĩa Mao, như là chủ nghĩa Mác áp dụng vào Trung Quốc (để song hành với chủ nghĩa Lênin là sự áp dụng chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh nước Nga). Có một thời kỳ dài các nhà lý luận cộng sản xem tư tưởng Mao chính là chủ nghĩa Mác-Lênin ở phương Đông. Điều đó không quá xa lạ vì Mao thừa nhận triết học Mác – Lênin, kinh tế chính trị Mác – Lênin, lý luận đấu tranh giai cấp của Mác – Lênin, chỉ có điều đưa cuộc đấu tranh giai cấp lên mức độ khốc liệt hơn nhiều. Phương pháp “đấu tố” của Mao là một kiểu “đấu tranh giai cấp” đấy chứ, làm sao có thể bảo hoàn toàn trái với chủ nghĩa Mác-Lênin? Đến khi Mao chống lại Đảng Cộng sản Liên Xô, nhằm giành giật vị trí lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế thì các “nhà mác-xít” mới chống Mao, chứ trước đó Mao vẫn là “nhà mác-xít vĩ đại” đó thôi. Năm 1951, tại đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ hai, điều lệ Đảng chẳng ghi rằng: Nhiệm vụ của đảng viên là học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chủ tịch là gì? Sao bây giờ lại bảo chủ nghĩa Mác không phải là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Lênin không phải là chủ nghĩa Mao…Hoá ra các “nhà khoa học”, “nhà nghiên cứu” cũng tiền hậu bất nhất y như con buôn hay sao?
Tất cả các “nhà lý luận” từ Mác, Ăngghen đến Lênin, Stalin, Mao…đều đã là quá khứ, là một phần của lịch sử rồi. Cho dù họ có gây ra bao nhiêu đau khổ cho nhân loại đi nữa thì cũng đã thành dĩ vãng. Các bạn không nên bận tâm nhiều về họ nữa, hãy tập trung ý chí vào cuộc sống hiện nay, nghĩ cách và hành động để đưa Việt Nam hoà chung vào dòng chảy chung của loài người tiến bộ, vì một tương lai cho các thế hệ mai sau.

Trần Đức Việt

ANH HÙNG TỬ KHÍ HÙNG BẤT TỬ


Lê Thương - Vào ngày 30-4-1975, khi những đôi dép râu giẫm lên hè phố Sài Gòn, bầu trời Miền Nam cũng vần vũ u buồn thì Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Phạm Văn Phú, Tướng Lê Văn Hưng, Tướng Lê Nguyên Vỹ và Tướng Trần Văn Hai đã anh dũng tuẫn tiết nêu cao hùng khí “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”, thà chết chứ không chịu nhục của ngũ hổ tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Quân Khu IV, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927 tại Đà Nẳng trong một gia đình nền nếp, khoa bảng. Ông là cựu học sinh trường Khải Định, tốt nghiệp Khóa Hành Chánh ở Huế, giữ chức Chủ Sự Tài Chánh từ năm 1951 đến năm 1953 thì nhập ngũ Khóa 3 Thủ Đức. Khi ra trường, ông tình nguyện phục vụ trong Binh Chủng Nhảy Dù và thuyên chuyển ra chiến đấu ở ngoài Bắc.
Sau Hiệp Định Genève 20-7-1954, đơn vị của ông được đưa về Miền Nam, lúc đó ông đang mang cấp bậc Trung úy. Đến năm 1955, ông giữ chức Đại Đội Trưởng thuộc TĐ7ND, về tham dự cuộc hành quân tảo thanh nhóm Bình Xuyên của Bảy Viễn ở Sài Gòn. Sau đó ông được thăng cấp Đại úy rồi  đi du học chuyên nghiệp tại Pau, ở Pháp. Ông mang cấp bậc Đại úy từ năm 1955 đến năm 1964 thì lên Thiếu tá, giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5ND. Qua năm 1967, ông được thăng Trung tá với chức Lữ Đoàn Trưởng LĐ3ND, nổi danh ở trận đánh Đồi
Ngok Van, Kontum. Cuối năm 1967 lại được vinh thăng Đại tá với Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Trong trận Mậu Thân 1968, Bộ Tổng Tham Mưu điều động đơn vị ông về Sài Gòn để tảo thanh Việt Cộng ở vùng ven đô, gây nhiều thiệt hại cho chúng. Qua năm 1969, ông nắm chức Tư Lệnh SĐ7BB kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Tháng 11-1969, ông lại được vinh thăng Chuẩn tướng nhiệm chức tại mặt trận cho đến tháng 11-1971 thì thăng Chuẩn tướng thực thụ. Tới năm 1972, Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam được thăng Thiếu tướng nhiệm chức rồi mang Thiếu tướng thực thụ vào tháng 10-1973, đến tháng 11-1974 được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Quân Khu IV.
Tướng Nguyễn Khoa Nam sống một cuộc sống rất giản dị, không vợ con, không xa hoa, không nhu cầu vật chất. Ông cũng mang tâm hồn nghệ sĩ, say mê hội họa và âm nhạc, giỏi về nhạc lý. Ông còn là một Phật tử thuần thành, ăn chay mỗi tháng 15 ngày, thường nghiền ngẫm kinh Phật và sách Nho Giáo. Ông là người trầm lặng, ít nói, sống nhiều về nội tâm, đươc tiếng phúc hậu, đạo đức, lấy Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín làm phương châm ở đời. Trong quân đội, ông là một vị tướng mẫu mực, một cấp chỉ huy tài giỏi, thương lính yêu dân nên được binh sĩ dưới quyền cũng như đồng bào kính mến.
Là Tư Lệnh Vùng, mỗi lần đi thanh tra hay thăm viếng các Tiểu Khu hoặc các đơn vị, Tướng Nam không bao giờ để cho các Tiểu Khu Trưởng, các đơn vị trưởng tiếp đón ông bằng tiệc tùng. Mỗi lần đi như vậy, ông chỉ mang theo khúc bánh mì thịt hay món ăn đơn giản, thanh đạm. Còn nếu gặp ngày ăn chay thì ông mang theo mấy trái bắp nấu hoặc vài củ khoai luộc. Nói đến Tướng Ngyễn Khoa Nam là phải nói đến “cái nón sắt”. Đầu ông luôn đội nón sắt và ông luôn luôn nhắc nhở các sĩ quan, binh sĩ phải đội nón sắt cho an toàn. Sĩ quan và binh sĩ dưới quyền có nhiều giai thoại về “cái nón sắt” với Tướng Nam. Nhắc đến chuyện thương lính, trước khi tuẫn tiết, Tướng Nam đã một mình tự lái xe Jeep vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản để thăm các chiến hữu của ông bị thương đang điều trị tại đây. Lần thăm viếng nầy nói lên sự vĩnh biệt thầm kín của ông với thuộc cấp.
Khi lệnh buông súng đầu hàng được ban ra vào lúc 10 giờ 00 sáng ngày 30-4-1975 thì rạng sáng ngày 01-05-1975, Tướng Nguyễn Khoa Nam đã dùng khẩu Browning bắn vào màng tang tuẫn tiết tại dinh Tư Lệnh nằm trên bờ sông Cái Khế ở Cần Thơ. Tướng Nam đã hào hùng chọn cái chết chứ không chịu đầu hàng nhục nhã. Khi tuẫn tiết, ông mặc lễ phục trắng với đầy đủ Dây Biểu Chương và Huân Chương các loại mà ông được ban thưởng, trên bàn viết còn để lại một vài vật dụng cá nhân và một món tiền 40.000$00, nhờ vị sĩ quan tùy viên đem về trao lại cho gia đình ông. Bốn mươi ngàn đồng vào thời điểm 30-4-1975 là món tiền quá nhỏ, nói lên đức tính liêm khiết của viên Tướng Tư Lệnh Vùng thuộc tập thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chính vì vậy mà Tướng Nguyễn Khoa Nam được tiếng là người thanh liêm, chưa hề bị tai tiếng về tham nhũng hay bè phái. Trung tá Bác sĩ Hoàng Như Tùng, Giám Đốc Quân Y Viện Phan Thanh Giản cùng một số sĩ quan, binh sĩ của Quân Đoàn IV đã đứng ra mai táng Tướng Nam tại Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ.
Vào năm 1984, gia đình Tướng Nam bốc mộ, hỏa thiêu hài cốt ông rồi đem về thờ tại Chùa Già Lam ở Gia Định. Trên đường về, khi qua bắc Cần Thơ và bắc Mỹ Thuận, thân nhân  đã rắc một phần tro cốt của ông xuống sông Tiền Giang cùng sông Hậu Giang, nơi mà ông đã chiến đấu và chết cho đồng bằng Sông Cửu Long. Tro cốt của Tướng Nguyễn Khoa Nam đã hòa với làn nước phù sa Cửu Long Giang để bón từng bụi lúa, từng cọng rau tấc đất của quê hương cho thêm mầu mỡ.
Phần tro cốt còn lại được đem về thờ tại Chùa Già Lam ở Bình Hòa, Gia Định. Hòa Thượng Thích Trí Thủ, trụ trì Chùa Già Lam đã đứng ra làm lễ cầu siêu cho Tướng Nguyễn Khoa Nam vào ngày 18-03-1984. Buổi lễ cầu siêu được tổ chức rất trọng thể, nghiêm trang, mặc dù gia đình giữ kín để tránh phiền phức với công an Việt Cộng nhưng bà con và thân hữu, đặc biệt là nhiều sĩ quan, binh sĩ VNCH đến tham dự đông đảo ngoài sự tưởng tượng của gia đình và nhà chùa.
TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ
Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II/Quân Khu II, sinh năm 1929 tại Hà Đông, Bắc Việt, xuất thân từ Khóa 8 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Sau khi tốt nghiệp, ông tình nguyện phục vụ trong Binh Chủng Nhảy Dù.
Khoảng tháng 3-1954, tình hình mặt trận Điện Biên Phủ đang ở cường độ sôi động cho nên TĐ5ND mà Trung úy Phú giữ chức Đại Đội Trưởng được huy động nhảy dù vào tiếp ứng cho mặt trận nầy. Vừa vào vùng, Trung úy Phú đã chỉ huy binh sĩ dưới quyền mở các cuộc phản công đẫm máu trước các đợt xung phong điên cuồng bằng biển người của địch. Mặt trận tiếp diễn ngày một thêm khốc liệt thì qua ngày 15-4-1954, Đại tá De Castries, Chỉ Huy Trưởng cứ điểm Điện Biên Phủ được thăng Thiếu tướng, hai Trung tá Langlais và Ladande thăng lên Đại tá cùng 10 sĩ quan khác, mỗi người được thăng một cấp, trong đó có Trung úy Phạm Văn Phú. Đến ngày 26-4-1954, Đại úy Phú được cử giữ chức Tiểu Đoàn Phó TĐ5ND, qua những trận đánh ác liệt, chẳng may ông bị thương và bị Việt Minh bắt khi Điện Biên Phủ thất thủ vào ngày 07 tháng 05 năm 1954. Sau Hiệp Định Genève, ông được trao trả về Miền Nam và tiếp tục phục vụ trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1960, Đại úy Phạm Văn Phú được tuyển chọn phục vụ trong Lực Lượng Đặc Biệt do Đại tá Lê Quang Tung làm Tư Lệnh. Cuối năm 1962, ông lên Thiếu tá, đảm nhậm chức Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Quan Sát 77 của LLĐB. Vào giữa năm 1964, ông chỉ huy Liên Đoàn này đánh tan Trung Đoàn 765  của cộng sản Bắc Việt ở Suối Đá thuộc tỉnh Tây Ninh. Sau trận này, ông được đặc cách thăng Trung tá với chức vụ Tham Mưu Trưởng LLĐB, một năm sau ông lại được thăng Đại tá nhiệm chức. Qua đầu năm 1966, giữ chức Phụ Tá Tư Lệnh SĐ2BB cho đến giữa năm 1966 được bổ nhiệm chức Tư Lệnh Phó và Xử Lý Thường Vụ sư đoàn này vì Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh sư đoàn được bổ nhậm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I. Cuối năm 1966, ông được bổ nhậm làm Tư Lệnh Phó SĐ1BB cho đến giữa năm 1968 lại được cử vào chức vụ Tư Lệnh Biệt Khu 44, trách nhiệm về các tỉnh biên giới Miền Tây Nam Phần thuộc Quân Khu IV. Năm 1969 được vinh thăng Chuẩn tướng tại mặt trận cho đến đầu năm 1970, Chuẩn tướng Phú được cử thay thế Thiếu tướng Đào Văn Quảng trong chức vụ Tư Lệnh LLĐB.
Cuối tháng 8-1970, Tướng Phú được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh SĐ1BB thay thế Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng đảm nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Tháng 3-1971, Chuẩn tướng Phú được vinh thăng Thiếu tướng tại mặt trận sau cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào. Trong mùa hè đỏ lửa 1972,  khi cộng sản Bắc Việt phóng ra các trận đánh lớn, Tướng Phú đã điều động, phối trí các trung đoàn của SĐ1BB một cách tài ba cho nên các phòng tuyến của ta ở Tây Nam Huế không bị chọc thủng bởi các cuộc tiến công  của địch. Phải nói, SĐ1BB là một sư đoàn mà khả năng tác chiến có thể xếp ngang hàng Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, có trách nhiệm bảo vệ vùng địa đầu giới tuyến gồm Quảng Trị, Thừa Thiên và cố đô Huế, từng được chỉ huy bởi các vị tư lệnh sư đoàn tài giỏi như Tướng Đỗ Cao Trí, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Phạm Văn Phú, Tướng Lê Văn Thân. Đến tháng 9-1972, Tướng Phú được điều động về Quân Đoàn III, làm Chi Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, một quân trường lớn nhất ở Việt Nam.
Vào tháng 11-1974, thể theo đề nghị của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh bổ nhậm Thiếu tướng Phạm Văn Phú vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II/Quân Khu II, thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Toàn về làm Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Thiết Giáp. Đến ngày 10-3-1975, CSBV huy động 3 sư đoàn, gồm SĐ10, SĐ320 và SĐ316 tấn công vào tỉnh lỵ Ban Mê Thuột và Ban Mê Thuột bị thất thủ trước sức tấn công của 3 sư đoàn cộng quân. Trong khi Tướng Phú đang lập kế hoạch phản công tái chiếm Ban Mê Thuột thì Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Tướng Phú rút bỏ cao nguyên về tái phối trí vùng đồng bằng Bình Định, Nha Trang. Tướng Phú đã nhiều lần yêu cầu Tổng thống Thiệu và Bộ Tổng Tham Mưu để ông tử thủ cao nguyên nhưng không được chấp thuận khiến ông thất vọng, chán nản. Rồi cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên thất bại, gây hỗn loạn, kéo theo sự sụp đổ cả Miền Nam đã làm cho Tướng Phú khổ tâm hơn nên ngã bệnh phải vào điều trị ở Tổng Y Viện Cộng Hòa.
Đến ngày 30-4-1975, Tướng Biên Khu Phạm Văn Phú đã dùng độc dược tuẫn tiết nêu cao tiết tháo “tướng chết theo thành”. Lại một vì sao sáng đã tắt trên bầu trời Miền Nam trong ngày u buồn của trang Hùng Sử!
TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV/Quân Khu IV sinh năm 1933, xuất thân từ Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ông phục vụ tại SĐ21BB từ Đại Đội Trưởng đến Trung Đoàn Trưởng, đã từng đảm nhiệm chức Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh. Ông là một sĩ quan can trường, khả năng tác chiến cao, giỏi về lãnh đạo chỉ huy và rất thương yêu binh sĩ dưới quyền. Các cấp bậc của ông từ đại úy trở lên đều được đặc cách vinh thăng tại mặt trận. Từ Đại tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc SĐ21BB, ông được cử giữ chức Tư Lệnh SĐ5BB ở Quân Khu III. Sau đó được vinh thăng Chuẩn tướng chỉ vài tháng trước khi cộng quân mở cuộc bao vây và công hãm thị xã An Lộc vào mùa hè đỏ lửa 1972. Trong suốt thời gian vây hãm, 4 sư đoàn địch đã mở những cuộc tấn công hung hãn bằng bộ binh, xe tăng  và những cuộc mưa pháo khốc liệt, như ngày 11-5-1972, thành phố nhỏ bé An Lộc đã gồng mình hứng khoảng 8.000 quả pháo binh đủ loại của Bắc quân.
Trong trận An Lộc lịch sử nầy, Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh SĐ5BB, chỉ huy toàn bộ các lực lượng tử thủ, đầu đội nón sắt, mặc áo thun bên trong, áo giáp bên ngoài, quần đùi, tay cầm M16, tay cầm ống liên hợp, lựu đạn cài quanh mình, chiến đấu gần như 24/24 giờ nêu cao truyền thống anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua câu: “Ngày nào tôi còn, An Lộc còn”. Trong suốt thời gian bị vây hãm, Tướng Hưng và những người lính tử thủ của ông có bao đêm ngủ được những giấc ngủ bình an trên những chiếc giường ngay ngắn như những người bình thường ở hậu phương? Sau 68 ngày bị vây hãm trong hỏa ngục máu và lửa, An Lộc vẫn đứng vững nhờ sự chiến đấu oanh liệt, dũng cảm của lực lượng tử thủ. Khi An Lộc được giải tỏa, Tướng Lê Văn Hưng được báo chí cũng như đồng bào Miền Nam tặng cho danh hiệu “Anh Hùng An Lộc”.

Tính đến 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, tình hình 16 tỉnh thuộc Quân Đoàn IV vẫn yên tĩnh, VC chỉ cắt một đoạn quốc lộ 4 từ Sài Gòn xuống Long An và Chuẩn tướng Hoàng Văn Lạc, Tư Lệnh SĐ9BB đang bay trực thăng chỉ huy cuộc giải tỏa đoạn quốc lộ nầy. Ngoài ra, VC cũng chỉ mở được cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Chương Thiện mà Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu Khu Trưởng đang cố thủ, chỉ huy các cuộc phản công (Chính vì sự anh dũng cố thủ nầy mà sau ngày 30-4-1975, VC đã đem Đại tá Hồ Ngọc Cẩn ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ).
Đến 10 giờ 00 sáng ngày 30-4-1975, lệnh buông súng đầu hàng được ban ra trên đài phát thanh khiến mọi người từ quan cho đến lính ai nấy cũng đều sững sờ. Một vị Đại tá thuộc Quân Đoàn IV, khi nghe lệnh đầu hàng đã khóc sướt mướt, vừa khóc, vừa nói với thuộc cấp: “Đầu hàng rồi tụi bây ơi! Nhục ơi là nhục!”. Ở một nơi xa khác, Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu đang theo dõi bản đồ hành quân, khi nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Tướng Hậu đã ném tung tấm bản đồ, tức tối thốt nên mấy tiếng: “Đồ chó đẻ!”. Riêng tại văn phòng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV, khi nghe lệnh đầu hàng, gương mặt Tướng Hưng mang đầy vẻ thất vọng,
mắt ông chùn xuống…Đến 8 giờ 45 tối ngày 30-4-1975, Tướng Lê Văn Hưng đã dùng khẩu Colt 45 bắn vào ngực tuẫn tiết, viên đạn xuyên qua tim, máu thấm ướt cả bộ quân phục. Tướng Hưng đã trút hơi thở cuối cùng nhưng đôi mắt vẫn còn mở dường như biểu lộ sự uất hận. Phu nhân Tướng Hưng, bà Phạm Thị Kim Hoàng, đã vuốt mắt cho chồng, thay quần áo cho ông, một số sĩ quan và binh sĩ phụ bà lo việc tẩn liệm. Khi tẩn liệm, bà Hưng đã cẩn thận xếp ngay ngắn lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ đặt lên ngực ông, lá cờ biểu tượng Miền Nam Tự Do mà chồng bà và những người lính Cộng Hòa đã đổ nhiều xương máu để bảo vệ biểu tượng thiêng liêng nầy. Trong khi đang tẩn liệm thì Thiếu tá Lành, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/33 nghe tin Tướng Hưng tuẫn tiết đã tông cửa chạy ùa vào, ôm quan tài Tướng Hưng gào khóc thảm thiết: “Trời ơi!…”ông thầy”…ơi!” khiến ai nấy cũng đều bùi ngùi rơi lệ.
Sau khi tẩn liệm, mọi người hối hả, vội vã lo chôn cất Tướng Hưng vì sợ VC vào gây nhiều khó khăn, rắc rối. Sau đó, do sự sắp xếp của vài vị sĩ quan và binh sĩ, phu nhân Tướng Hưng được đưa vào tá túc tại một ngôi chùa để tránh phiền phức với VC. Về sau, cũng chính các vị sư của ngôi chùa nầy đã giúp xây mộ cho Tướng Lê Văn Hưng đàng hoàng.
TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ
Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh SĐ5BB, sinh năm 1933 tại Sơn Tây, Bắc Việt trong một gia đình Nho học.. Ông gia nhập quân đội và theo học Khóa 1951 Trường Sĩ Quan Đập Đá ở Huế, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy, được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 19 do Đại úy Đỗ Cao Trí (Sau nầy lên Trung tướng và bị tử nạn phi cơ trực thăng trong một cuộc hành quân) làm Tiểu Đoàn Trưởng. Lúc mang cấp bậc Đại úy, ông đuọc cử giữ chức Quận Trưởng Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương rồi lên dần cho đến chức Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 thuộc SĐ5BB do Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu làm Tư Lệnh Sư Đoàn. Ông đã nối tiếng là một Trung Đoàn Trưởng có khả năng tác chiến cao và đánh giăc rất gan dạ cho nên ông được các binh sĩ tặng cho danh hiệu “Nhất Vỹ, Nhì Gia”, “Nhì Gia” là Trung tá Hà Văn Gia, cũng khét tiếng gan dạ. Đồng bào ở quanh vùng Lái Thiêu, Bến Cát, Lai Khê, Bình Dương, Bình Long, Phước Long đều biết tiếng Tướng Lê Nguyên Vỹ.
Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, khi VC bao vây và tấn công An Lộc, Đại tá Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Phó SĐ5BB cùng với Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn đã điều động các đơn vị tử thủ đẩy lui nhiều đợt tấn công vũ bão của địch. Ở vào cao điểm khốc liệt nhất, địch mở những trận mưa pháo cực kỳ khủng khiếp, đồng thời tung chiến xa và quân bộ chiến mở những cuộc tấn công dứt điểm An Lộc, chính Đại tá Vỹ đã nhào ra chiến hào, ôm M72 bắn hạ chiến xa địch. Ông là người đầu tiên lập thành tích bắn hạ chiến xa cộng quân tại mặt trận An Lộc khiến các chiến sĩ ta lên tinh thần bắn hạ thêm nhiều chiếc khác, xác nằm ngổn ngang trong đường phố. Ông đã bị thương vì tai nạn trực thăng trong một cuộc hành quân khi còn là Tư Lệnh Phó SĐ21BB, chân đi khập khiễng, phải chống gậy. Sau khi học xong Khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu Cao Cấp ở Hoa Kỳ về, ông được bổ nhậm giữ chức Tư Lệnh SĐ5BB vào tháng 6-1973. Tướng Vỹ cũng là một vi tướng thanh liêm, rất tích cực trong việc bài trừ tham nhũng. Ông đánh giặc gan dạ, chỉ huy tài giỏi, làm việc không kể giờ giấc, thanh liêm, hết lòng phụng sự tổ quốc nhưng có tật nóng tính. Tính ông nóng như Trương Phi trong truyện Tàu.
Khi lệnh đầu hàng được ban ra, Tướng Vỹ đã triệu tập một phiên họp tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, trong phiên họp ông đã nói: “ Lệnh bắt chúng ta buông súng để bàn giao cho địch, nói thẳng ra là lệnh bắt chúng ta đầu hàng. Vì tôi là một vị tướng chỉ huy mặt trận tôi không thể thi hành lệnh nầy. Tôi nghĩ thân làm tướng là phần nào đã hưởng danh dự và ân huệ của quốc gia hơn các anh em nên tôi phải chọn lấy con đường đi riêng cho tôi…”. Sau phiên họp, ông cho thuộc cấp trở về nhà, còn riêng ông, ông ra trước kỳ đài Bộ Tư Lệnh, nghiêm trang chào lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ lần cuối rồi dùng khẩu súng lục tự bắn từ dưới cằm, viên đạn trổ lên đỉnh đầu. Ông đã tuẫn tiết bằng chính khẩu súng chỉ huy của mình. Con đường mà Tướng Vỹ chọn ngày hôm nay đã có Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản và nhiều vị anh hùng khác đã lựa chọn ngày trước.
Một số sĩ quan và binh sĩ trong Bộ Tư Lệnh SĐ5BB đã lo chôn cất ông vào ngày 30-4-1975. Nhìn chiếc quan tài đơn sơ của dũng tướng Lê Nguyên Vỹ nằm sâu trong lòng đất lạnh mọi người đều ngậm ngùi, nuối tiếc!  Nhưng hề gì, đã có hồn thiêng sông núi ấp ủ ông trong lòng Đất Mẹ.
Tướng Trần Văn Hai
Chuẩn tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh SĐ7BB, sinh năm 1929 tại Cần Thơ, theo học Khóa 7 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, sau khi tốt nghiệp ông tình nguyện ra chiến đấu ở các chiến trường Bắc Việt.
Đến năm 1954, khi đất nước bị chia đôi, đơn vị của ông được đưa về Miền Nam và ông được thăng cấp Đại úy, giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 81 Địa Phương ở Phan Thiết.
Năm 1961, sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu Cao Cấp ở Hoa Kỳ về thì được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Trường Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ. Ông là người đề xướng ra các khóa huấn luyện Rừng Núi Sình Lầy và Mưu Sinh Thoát Hiểm. Năm 1963, ông được vinh thăng Thiếu tá, đảm nhận chức Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ ở Nha Trang. Qua năm 1965, ông giữ chức Tiểu Khu Trưởng Phú Yên, sau đó về làm Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân. Trong trận Mậu Thân 1968, ông chỉ huy các đơn vị Biệt Động Quân
dưới quyền phản công Việt Cộng ngay từ giờ phút đầu tại Thị Nghè, Hàng Xanh, Phú Thọ và ở Chợ Lớn. Trong các trận đánh nầy, Biệt Động Quân đã dùng chiến thuật “đục tường” đánh với VC gây cho chúng nhiều thiệt hại và đẩy lui chúng ra khỏi thành phố.
Tháng 5-1968, ông được bổ nhiệm giữ chức Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Qua năm 1970 được vinh thăng Chuẩn tướng với chức vụ Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Quân Khu IV. Đến năm 1971 ông trở về nắm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân cho đến năm 1972 được bổ nhậm làm Tư Lệnh Phó Hành Quân của Quân Khu II, sau đó giữ chức  Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn Kiêm Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu Lam Sơn ở Dục Mỹ. Đến tháng 11-1974, ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh SĐ7BB Kiêm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Đồng Tâm khi Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam về đảm nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
Chuẩn tướng Trần Văn Hai cũng là một vị tướng rất thanh liêm, không tham, sân, si chỉ hết lòng phụng sự tổ quốc. Khi rời chức vụ Tiểu Khu Trưởng Phú Yên để đáo nhậm nhiệm sở mới, hành trang của ông chỉ vỏn vẹn trong một cái túi vải nhỏ và ông đã nói lời từ biệt với thuộc cấp như sau:“Tôi cám ơn các anh chị đã tận tình làm việc với tôi trong thời gian qua, có thể người ta cho rằng mình là những đứa dại, chỉ biết làm việc mà không biết đục khoét. Nhưng tôi tin là mình đã làm đúng…”. Còn khi về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, người ta không thấy ông dùng xe dân sự lộng lẫy mang số ẩn tế mà ông chỉ dùng chiếc xe Jeep nhà binh cũ kỹ ông mang theo khi còn làm Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân. Ngoài liêm khiết, Tướng Hai còn là con người thẳng thắn, bộc trực, không luồn cúi. Có thể nói ông thuộc mẫu người “Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.
Tướng Trần Văn Hai đã dùng độc dược tuẫn tiết vào khoảng 6 giờ 00 chiều ngày 30-4-1975 tại văn phòng Tư Lệnh SĐ7BB trong Căn Cứ Đồng Tâm. Trước khi tuẫn tiết, Tướng Hai có trao cho vị sĩ quan tùy viên một gói đồ trong đó gồm bảy mươi ngàn đồng tiền Việt Nam được gói trong một tờ giấy báo cũ nhờ trao lại cho mẹ ông, nói rằng quà của ông tặng cho mẹ và nói với bà đừng lo lắng gì cho ông cả!
Những tướng tá bỏ chạy ra hải ngoại chưa chắc đã là hèn nhưng 5 vị tướng can trường quyết tâm ở lại với các chiến hữu cho đến giờ phút lịch sử sang trang và chọn sự tuẫn tiết để biểu lộ cung cách mã thượng của những người trượng phu quân tử chắc chắn là những đấng anh hùng. Cái chết cao cả, đáng kính của họ là niềm hãnh diện cho QLVNCH nói riêng, cho nhân dân Miền Nam nói chung. Những sự tuẫn tiết anh dũng nầy đã khiến cho một viên cán bộ cao cấp của CSBV phải thốt nên lời thán phục bằng câu: “Làm tướng như vậy mới xứng đáng làm tướng!”.
Khi còn sinh tiền, các tuẫn tướng đã chiến đấu dũng cảm, gót chân chiến binh của họ đã giẫm lên khắp nẻo đường đất nước từ Lạng Sơn, Cao Bằng, Điện Biên hay Ashau, A Lưới, Dakto, Tân Cảnh, Khe Sanh, Tam Biên, Hạ Lào của cao nguyên Trường Sơn ngút ngàn cho đến Đồng Tháp Mười, Thất Sơn Bảy Núi, U Minh, Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt của vùng sình lầy Miền Tây Nam Phần. Đời chiến binh của họ ngày đêm cọ sát với tử thần trong các chiến trường bốc lửa khắp 4 Vùng Chiến Thuật để ngăn chận làn sóng xâm lăng của CSBV hầu chu toàn trách nhiệm bảo quốc, an dân. Nói làm sao cho hết các chiến công hiển hách, những nét kiêu hùng mà ngũ hổ tướng Miền Nam đã góp công tô điểm cho Pho Quân Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thêm sáng ngời!
Lê Thương
www.vietthuc.org

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

NƯỚC 4000 NĂM VẪN TRẺ CON


Chẳng ai hiểu dân tộc mình bằng các nhà văn nhà thơ, bởi lẽ họ là người chép sử của dân tộc, họ nói lên tiếng nói của dân tộc.
Nhà văn Phùng Tuyết Phong hồi thập niên 30 đến thăm Mao Trạch Đông ở chiến khu Thụy Kim có kể cho Mao nghe:
“Một người Nhật nói, cả Trung Quốc chỉ có 2 người rưỡi hiểu được người Trung Quốc. Một là văn hào Lỗ Tấn, hai là Tưởng Giới Thạch, nửa người kia là Mao Trạch Đông”.
Nghe xong, Mao cười ngất: Hảo, cái tay Nhật Bản ấy nói đúng lắm!Hai thập niên sau, Chủ tịch Mao nói: Lỗ Tấn mới là đệ nhất thánh nhân của Trung Quốc, còn tôi (Mao) chỉ là “hiền nhân”.
Ở ta cũng có nhà thơ Tản Đà chỉ dùng hai câu thơ là đủ nói lên tính cách dân tộc mình:
Dân hai nhăm triệu ai người lớn /
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Thằng trẻ ranh này xin múa rìu qua mắt thợ để lạm bàn về tính trẻ con của người Việt ta.

Trẻ con ai chẳng hồn nhiên?
Vì thế nếu có lỗi lầm gì thì thiên hạ cũng bỏ qua. Còn nhớ năm xưa Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức đến thăm Trung Quốc. Sau khi Bác Hồ làm cụ Mao đớ người ra vì cái ôm hôn nồng thắm chưa từng có trong lịch sử ngoại giao thế giới, toàn bộ lưu học sinh Việt Nam có mặt ùa tới ôm lấy Bác, có anh sờ cả râu Bác. Cụ Mao đứng như trời trồng; mấy cán bộ bảo vệ Trung Quốc cuống lên không biết làm thế nào để bảo vệ hai lãnh tụ. Nghe nói sau đấy họ bị kiểm điểm gay gắt lắm, còn học sinh ta thì chẳng sao.

Trẻ con thích gì? Thích hình thức.
(Già được bát canh, trẻ được manh áo mới). Bệnh hình thức của ta có lẽ nặng nhất thế giới. Cứ xem đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội thì đủ rõ. Chẳng thấy thủ đô sạch hoặc văn minh thêm, mà có lẽ ngược lại, trong khi tiền tỷ tiêu cả trăm, nghìn.
Thích được khen, ghét bị chê. Gặp người nước ngoài bao giờ cũng hỏi họ thấy Việt Nam thế nào. Vì phép lịch sự, ai lại chê chủ nhà bao giờ. Nhà đài ta phỏng vấn chính khách, nguyên thủ nước ngoài không bao giờ thiếu câu hỏi ấy (xem phỏng vấn Ban Ki-mun ... mới đây). Được khen thì hý hửng lắm. Sao không hỏi có thấy chúng tôi có khiếm khuyết gì? Một tiến sĩ tâm lý viết sách nói về tính cách người Việt, sách in xong bị thu hồi ngay khi chưa kịp bán.

Thích khoe khoang.
Vì còn bé nên chỉ có thể khoe bố mẹ, ông bà, chứ bản thân có gì để khoe. Bệnh ca ngợi, khoe khoang tổ tiên rất thịnh hành (“Ăn mày dĩ vãng”). Thời cách mạng, kháng chiến, cha ông ta vô cùng giỏi. Nhưng chúng ta bây giờ giỏi cái gì? Tham nhũng, lãng phí, giả dối, đạo văn, đạo công trạng người khác thành của mình, chạy chức ... Chẳng hiểu có cái gì xấu của xã hội tư bản mà ta còn thiếu?

Trẻ con làm gì cũng khác người lớn.
Ta có lắm cái khác thiên hạ đến kỳ cục. Một ông Giám đốc Sở tỉnh Hà Tây cũ lái ô tô cán phải hai bố con đi xe máy, không đỗ xe đưa người ta đi cấp cứu (nếu cấp cứu kịp có thể sống) mà vô lương tâm lái xe vù mất. Hai mạng người chết, ông này lĩnh cái án treo! Kỳ cục là Tòa Tối cao cũng bỏ qua. Chuyện này đáng ghi vào Sách Ghi-nét về xử án công bằng. Bài Tiến hay lùi đúng lúc cũng là yêu nước trên VietnamNet vạch ra: “Từ tháng sáu (2010) đến nay có quá nhiều điều phải bàn, (đó là) những câu chuyện ... an nguy của xã tắc” :
- Cho nước ngoài thuê khoảng 340.000 hec ta đất rừng với giá 1 hec ta bằng 10 bát phở;
- Dự án đường sắt cao tốc với dự kiến 56 tỷ USD bị Quốc hội bác;
- Quy hoạch chung Hà Nội với sáng kiến dời đô và tiêu hủy đất nông nghiệp kỷ lục;
- Dự án Bô xít ở Tây Nguyên, quả bom nổ chậm bùn đỏ lơ lửng treo trên đầu dân tộc;
- (Con tàu) Vinashin với khoảng 86.000-120.000 tỷ đồng tiền ngân sách (thuế dân) đang chìm theo làn nước lạnh.
Tác giả bài báo đưa ra một từ rất hay Tư duy bỗng dưng:
- Bỗng dưng phải làm đường sắt cao tốc;
- Bỗng dưng phải dời đô lên Ba Vì;
- Bỗng dưng phải khai thác bô xít ...
Khó mà kể hết những cái bỗng dưng ấy. May mà dân chúng, các nhà trí thức mạnh dạn góp ý (tuy rất dè dặt), nếu không thì còn phí vài trăm tỷ đô vì cái tư duy bỗng dưng cả thế giới không có.Đúng là tư duy trẻ con.

Bỗng dưng nghĩ ra và “quyết” làm ngay, chẳng hề cân nhắc tính toán.
Lại thích làm chuyện lớn trong khi chưa biết nó ra sao. Tiền của bố mẹ (tức của dân) cho nên không xót, chậc lưỡi một cái là xong. Bố mẹ xót ruột nhưng thương con nên bỏ qua.

Trẻ con dễ tính và dễ quên.
Tính cách này vừa hay vừa dở. Hay ở chỗ không thù dai, sẵn sàng bắt tay kẻ thù cũ khi họ chơi đẹp. Dở ở chỗ hay quên chuyện lớn. Chuyện to đùng là mỗi con dân tự dưng è cổ gánh món nợ cả triệu bạc thì không dành phiên họp riêng để bàn, trong khi chuyện 20 năm nữa may ra mới làm (đường sắt cao tốc) thì bàn tới bàn lui, lại còn bỏ phiếu thông qua nữa, chưa kể trước đó một số vị còn đi nước ngoài tham quan bằng tiền dân! Báo chí khoe GDP tăng trưởng mấy phần trăm, nhưng ít nói tới giá cả tăng chóng mặt.

Trẻ con hay chối lỗi.
Một vị hoa tay tươi cười nói như ra lệnh trong kỳ họp Quốc hội trước: Ta nhất định phải làm đường sắt cao tốc. Kỳ họp này chẳng thấy vị nào ra phân trần về vụ Vinashin. Rồi xem, có ai từ chức vì chuyện “bỗng dưng” mất 4-5 tỷ đô-la này.......

Trẻ con thì lắm chuyện lôi thôi, rông dài kể mãi sao hết.
Mong bạn đọc bàn thêm.

Dân tộc Việt Nam không thể mãi mãi trẻ con, mà phải trưởng thành, tiến vào hàng ngũ những dân tộc tiên tiến. Nếu đất nước có bé về diện tích thì cũng là bé hạt tiêu – như Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel, chẳng sợ gì nước lớn. Huống chi ta đứng thứ 13 thế giới về số dân.Muốn vậy phải dựa vào dân, phải cho dân được thật sự tự do nói, sao cho “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, chớ có vì lợi ích của một số người hoặc nhóm. Phải khai thác tối đa trí tuệ của dân. Người Việt không thua kém mặt bằng chung tri thức của nhân loại. Ngô Bảo Châu đã cho thấy Việt Nam là dân tộc thứ hai ở châu Á giành được giải Nobel Toán cao quý.
Dẫu có thế nào thì trẻ con cuối cùng vẫn thành người lớn, vì có sự dạy dỗ của cha mẹ, của xã hội. Nhưng một dân tộc thì ai dạy dỗ? Nếu không phải là chính chúng ta, những người chủ của đất nước này. Cả tôi lẫn bạn hãy suy ngẫm, hãy kiểm điểm thật kỹ bản thân, vì tư duy của chúng ta hãy còn trẻ con lắm, dù đã 4000 năm tuổi.
Lạy cụ Tản Đà, mong cụ linh thiêng chỉ bảo chúng con vài lời.

Ảnh minh họa : Doithongreo.blogpost
Tác Giả : Thạch Giản
Nguồn :http://trannhuong.com/news_detail/6886/NƯỚC-4000-NĂM-VẪN-TRẺ-CON

THẾ NÀO LÀ BÁN NƯỚC?



Hồi bé, cho đến tận hết cấp 3, mình đi học ở mái trường xã hội chủ nghĩa, giữa thủ đô ngàn năm văn hiến. Người ta dạy mình, trong lịch sử dân tộc, có quá nhiều kẻ bán nước. Nào là Trần Ích Tắc, nào là Lê Chiêu Thống, nào là Triều đình nhà Nguyễn, nào là Ngô Đình Diệm…
Mình vốn trẻ con, cứ hiểu đơn thuần, bán là mất, không cách gì lấy lại cho được. Nhưng ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe tin trên loa phát thanh “Non sông liền một giải từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Mình choáng, choáng thực sự. Hoá ra chẳng có ai bán cả. Đất đai lánh thổ vẫn còn nguyên đấy. Người Mỹ, người Pháp chẳng lấy về bản quán họ 1 kg đất nào. Chỉ có chuyện “quân ta” thắng “quân nguỵ” để “giải phóngmiền Nam”, để rồi “non sông liền một giải”.
Cũng vì cái “choáng” sau 30/4/75, như bị lừa (mình vốn trẻ con mà), mình quyết định tìm hiểu thế nào là bán nước. Trong khi đất đai tổ tiên để lại vẫn còn nguyên đấy. Chẳng nhẽ chửi sách giáo khoa là bịp bợm à ? Vậy thì phải hiểu như thế nào.
À mà nhân tiện nói thêm. Hồi mình ở ngoài Bắc, cho mãi đến tận những năm 80 cả thế hệ mình, anh chị mình, bố mẹ mình, không hề có khái niện danh từ Hoàng Sa – Trường Sa. Không có trên bản đồ Việt Nam, không có trong sách địa lý, lịch sử.
Quay lại chuyện bán nước, trong sử sách có ghi Việt Minh tố cáo triều đình nhà Nguyễn bán 6 tỉnh miền Đông cho Pháp. Vậy là mất nước. Sáu tỉnh miền Đông thuộc mẫu quốc rồi. Nhưng sao anh Minh râu đi từ Phan Thiết vào Sài Gòn dễ dàng thế. Rồi lên tàu làm phụ bếp qua tận Mác-xây, dễ dàng thế, không Visa, không hộ chiếu.
Đọc mấy tác phẩm Nam Cao, mới biết dân Nam bộ còn sướng hơn dân Trung kỳ, dân Bắc Kỳ vì không phải đóng thuế thân. Mai mốt Lại Văn Sâm có hỏi trong chương trình Đi Tìm Triệu Phú, chị Dậu là người vùng nào, bạn nhớ trả nhời chị ở Bắc Kỳ nhé, là ăn tiền. Nói vậy để mình lý giải một điều mính đã từng nghĩ, bán được như thế thì bán hết cho rồi, cho chị Dậu đỡ khổ .
Sau này mình mới biết thực chất không phải triều đình nhà Nguyến bán nước, mà là công nhận 6 tỉnh miến đông thuộc khối Liên Hiệp Pháp. Được hưởng quy chế như mẫu quốc. Thì năm 46 anh Minh râu cũng “ bán” luôn, không phải 6 tỉnh mà tuốt luột từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, qua hội Nghị Phongteneble. Nghĩa là anh Minh râu xin được Pháp công nhận Việt Nam thuộc khối Liên Hiệp Pháp. Trước đó Việt Minh do anh Minh râu lãnh đạo bảo triều đình nhà Nguyễn bán nước, thì đến năm 46 phải hiểu như thế nào ? Chà khó quá.
Rồi đến cái đoạn hiệp đinh Genève năm 54, hai miền, 2 quốc gia. Bên anh Minh râu ngoài Bắc bảo là Ngô Đình Diệm bán nước cho Mỹ rồi. Ấy vậy mà triệu triệu thanh niên niềm Bắc tin thật, hoặc bị bắt phải tin nên đã bỏ mạng vào Nam chiến đấu để giành lại đất nước. Rồi đến năm 73, sau hiệp định Paris, Mỹ rút về nước, mình lo, nó rút về thì nó đem miền Nam nước mình về bên Mỹ mất, do Tổng thống Diệm bán rồi (mình vốn trẻ con mà). Hoá ra không phải, người Mỹ chẳng đem 1 kg đất nào về.
Rồi thì đến thời đại Hồ Chí Minh, mất mẹ nó luôn Hoàng Sa, Trường Sa, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Đỉnh Lão Sơn .v.v. Nghe nói phân chia hiệp định biên giới thế nào mà mất diện tích bằng một tỉnh Thái Bình. Còn ngoài biển Đông thì thôi rồi, mất mẹ nó một nửa.
Mình vốn trẻ con, cứ hiểu đơn giản rằng bán là mất, là của người ta, dân Việt mình cấm có bén mảng đến, vì đất đai thuộc chủ quyền của người ta rồi. Đừng dại dột đến đấy người ta đánh cho, thêm khổ.
Nhưng khổ một nỗi dân mình lại không hiểu điều ấy do bị bưng bít, dân Lý Sơn chẳng hạn, năm nào ra khơi cũng tàu thuyền bị Trung Quốc nó đánh cho bầm dập, mà vẫn cứ tưởng là biển của nhà mình.
Nhưng dân Văn Giang lại khôn hơn nhiều, quyết tâm giữ đất. Nhận 135 ngàn một mét vuông coi như mất vĩnh viễn. Sau mày Ecopark hình thành (Việt Hưng liên doanh với tập đoàn Anh Mỹ nào đó), dân Văn Giang bước vào đất của nó, bảo vệ nó đánh cho què chân, cấm có kêu. Nó bảo CHÍNH QUYỀN CỘNG SẢN bán cho tao rồi. Đất gì của mày mà mày bước vào đây, mày vào đây ăn trộm à.
Đấy, BÁN NƯỚC đâu cứ biên giới hải đảo, bán ngay trong đất liền luôn, bán từng cụm, từng dự án, từng công trình. Tiền vào túi ai ? Đàng cộng sản này không có 1 xu tớ làm con cầy.
Trần Sơn
danlambaovn.blogspot.com